DẠ TIỆC QUỶ 17

chương 17: Đêm của đàn bà
Võ Thị Hảo

Miên vừa kịp ẩn người vào bụi cây trước miệng một hang đá đen ngòm trong khu rừng trên đảo thì đã nghe tiếng quát tháo, tiếng súng nổ, tiếng kêu khóc của phụ nữ và trẻ em trong đoàn người đi cùng thuyền đang nằm la liệt trên bãi biển.

Từ nơi ẩn nấp, Miên vẫn có thể quan sát tất cả những gì đang diễn ra. Nơi ẩn nấp của cô là một miệng hang cao vọt lên cách mặt biển cỡ vài chục mét. Trong ánh lửa, thấp thoáng bóng những tên cướp biển trên con thuyền lúc chiều đang hùng hổ đi lại, lục soát. Chúng là những ngư dân vừa sống bằng nghề đánh cá, vừa buôn lậu, vừa cướp bóc.

Cô nhìn thấy những bước chân hung hãn, quần đảo. Nạn nhân bị sờ nắn khắp thân mình và lục soát đồ đạc để tìm vàng và đô la còn sót lại trong buổi cướp bóc lúc chiều chúng còn chưa kịp tìm ra.

Một ông già râu bạc, ngồi cạnh đống lửa đang bị chúng dằn xuống một tảng đá, giậm chân lên ngực. Một tên cướp biển giữ chặt lấy hai tay hai chân ông để cho hai tên khác dùng dao nậy những chiếc răng vàng của ông. Ông già rên xiết thảm thiết, miệng ứa đầy máu.

Rồi cô thấy, hai tên cướp lại dồn tất cả những người đàn ông trên bãi biển vào một góc và lăm lăm tay súng, hễ động là bắn. Còn lại, bọn chúng lùa tất cả những người đàn bà, con gái, kể cả hai em bé mới bảy, tám tuổi, lôi xềnh xệch xuống khoảng cát mặn cách đó chừng vài mươi bước trong tiếng khóc thét của những đứa trẻ gọi mẹ.

Bọn cướp biển bắt đầu hối hả dứt bỏ quần áo.

Trong ánh lửa bập bùng hắt ra từ đống lửa trên bãi biển, Miên nhìn rõ những thân mình trùng trục lực lưỡng của chúng. Những thân thể đàn ông với đôi bắp tay to, bộ ngực nở kỳ lạ nhưng đôi chân lại quá nhỏ.

Cô rùng mình nhớ lại cảnh ba kẻ đã hãm hiếp bé Hiền đến chết. Cô như nghẹt thở, thoi thóp khấn thầm tạ ơn mẹ, tạ ơn trời phật đã run rủi cho cô sớm linh tính thấy sự nguy hiểm qua ánh mắt hau háu của gã thuyền trưởng để lập tức trốn vào hang đá khi có tiếng máy của tàu chúng quay trở lại.

Lũ cướp biển đang cố tình chơi trò kích dâm. Chúng thích thú phô phang trước mặt tất cả đám phụ nữ, trẻ em và đàn ông đang buộc phải nhìn chúng trên bãi biển, dưới ánh lửa.
Khắp bãi biển vang lên những tiếng kỳ lạ. Lẫn giữa tiếng gào rú dâm ô, tiếng van xin và rủa xả, tiếng kêu la vì bị lũ bạo dâm hành hạ, là những lời chửi rủa và tiếng khóc đau đớn của những người đàn ông bị buộc phải chứng kiến nỗi nhục nhã của thân quyến mình mà không thể làm gì được và lòng tự trọng đàn ông bị chà đạp. Thảm cảnh diễn ra trong tiếng sóng và tiếng gió rì rào như xoa dịu, và thật trớ trêu, là trăng lại hiện lên xa xa, cong và vàng và mảnh mai quá phía chân trời.

Miên tê tái trong nỗi ghê sợ đàn ông đến cùng cực. Trời ơi! Bí ẩn giữa đàn ông và đàn bà là như vậy sao? Hoá ra bao nhiêu câu nói lấp lửng, bao nhiêu lời tình tứ, bao nhiêu câu hát giao duyên, bao nhiêu lời tỏ tình say đắm, để người ta lấy nhau và rốt cuộc là những cuộc hành hình hung bạo. Không! Miên thề sẽ không bao giờ lấy chồng!

Đang nghĩ lan man, cổ họng đắng vì ghê tởm và buồn nôn, chợt Miên lạnh người khi nhận ra một cái bóng cao vâm lừng lững, đang bước những bước dài sục sạo như một con sói đói và soi đèn vào mặt khắp lượt đám đàn bà, con gái đang bị bọn cướp biển dứt bỏ không thương tiếc những mảnh quần áo trên người.

Cái bóng cao lớn ấy, soi đèn vào từng gương mặt một, hất cằm người ta lên để nhìn cho rõ, tìm đi tìm lại mấy lần rồi lộ vẻ thất vọng. Cô nghe tiếng của hắn gào lên như hổ đói. Cô biết đó chính là gã thuyền trưởng của tàu cướp biển. Cô biết hắn đang nổi cơn điên vì không tìm thấy cô. Rồi hắn sẽ lần vào rừng tìm mình đây – Miên nghĩ, run lẩy bẩy.

Ngay lúc đó, cô thấy những người đàn bà, con gái, kể cả cô bé gái mới vừa tám tuổi đã bị hãm hiếp vừa nãy lại bị lũ cướp nãy giờ đang bận lục soát và canh gác được đổi phiên bởi toán cướp mới thực hiện xong cuộc hãm hiếp vừa rồi. Toán cướp mới lại dằn ngửa xuống ở trên bãi biển và bắt đầu hãm hiếp đợt hai. Những kẻ hoang dại, lang bạt trên biển, lâu ngày không có đàn bà lao vào đám phụ nữ như những con sói đói.

Kêu khóc, vừa cào cấu, vừa rên la thảm thiết vì đau đớn, vì nhục nhã đến kiệt sức, những người phụ nữ bị hãm hiếp giờ này đã không còn chống cự hoặc cào cấu, không còn rên la. Họ chịu đựng.

Và cô lại nghe rõ thêm nhiều tiếng rú tắc nghẹn, căm hờn và có cả tiếng khóc của những người đàn ông khi nhìn thấy vợ họ, mẹ họ, người tình của họ, con gái của họ bị hãm hiếp ngay trước mắt. Cơn ghen khiến họ lồng lộn lên trong khi thân xác bị ghìm chặt xuống cát và đá sỏi trước những họng súng.

Hai gã lính canh vẫn đang dồn họ vào một góc, vừa lăm lăm tay súng vừa theo dõi đám cướp đang hành lạc, cười khoái trá, háo hức chờ được đổi gác và lại đến lượt hãm hiếp đám đàn bà con gái dưới kia.

Bỗng Miên nghe tiếng những bước chân đi gần về phía cô. Không phải là một mà là ba bốn tiếng chân bước. Miên hoảng hốt lùi sâu hơn vào trong hang. Cũng may, miệng hang khuất sau một tảng đá uốn lượn như vành tai và những bụi cây rậm rạp.
Cô thấy người mẹ trẻ tên là Pha đã bón cháo cho cô trong những ngày cô bị sốt ở trên thuyền đang bị tên thuyền trưởng và tên thông ngôn lôi xềnh xệch vào trong rừng. Chị kêu khóc thảm thiết:

– Thực tình là tôi không biết con bé ấy đi đâu. Xin các ông tha cho, tôi có con nhỏ đang bú.

Miên nghe gã tướng cướp quát, mặt đanh ác. Gã thông ngôn quay sang nói với chị:

– Ông thuyền trưởng nói rằng nếu mày chỉ chỗ nấp của con nhỏ lúc chiều thì mày sẽ được tha, nếu không, mày cũng bị hãm hiếp như lũ người kia và bị quẳng xuống biển. Nói!

Miên nghe tiếng Pha vừa khóc vừa nói:

– Tôi không biết!

Gã tướng cướp gầm lên. Miên còn nghe rõ tiếng “bốp” khi bàn tay hộ pháp của gã tướng cướp phang vào mặt chị.

Gã thông ngôn riết róng:

– Mày dối trá, bọn Việt Nam chúng mày dối trá! Toàn một lũ dối trá! Không thể tin được bất kỳ một đứa nào trong lũ người mọi chúng mày! Nói ngay, con nhỏ đó chạy về phía này phải không?

Cô nghe tiếng đấm đạp, tiếng áo quần bị xé toạc. Từ chỗ Miên đang nấp đến chỗ gã tướng cướp và gã thông ngôn đứng, chỉ còn khoảng hai mươi bước chân đã phả ra từ người chúng cái mùi khét nồng nặc của mồ hôi pha lẫn mùi tanh của tôm cá, mùi mặn của gió mang hơi muối biển.

Giọng người phụ nữ cuống quýt hốt hoảng nhưng chị cố bảo vệ Miên đến cùng vẫn khăng khăng một mực:

– Không! Thật tình tôi không thấy! Con nhỏ đó bị một tàu khác mang đi rồi.

Vừa lúc đó, Miên nghe rất rõ tiếng gào khóc của trẻ thơ. Tiếng khóc của đứa con Pha, cái giọng cô nghe rất quen kèm tiếng gọi thảm thiết của ông chồng:

– Thả vợ tao ra! Lũ chó lợn…

Miên nghe có tiếng kêu la của người đàn ông, lại có cái gì bị lôi xềnh xệch. Hoá ra, hai tên cướp đã hả hê sau cơn cưỡng hiếp. Chúng nghĩ ra một trò mới là đem người chồng đến và bắt anh ta chứng kiến cái cảnh mà tướng cướp của chúng đích thân hành lạc với vợ của người đàn ông này ngay trước mắt anh ta để thêm phần khoái trá.

Người đàn ông đến, nhìn thấy vợ đã không còn mảnh vải che thân, đang bị trói giật cánh khuỷu, tựa lưng vào một tảng đá với cái thân thể loã lồ, anh đau đớn, rú lên như bị chọc dao vào cổ, anh lao ra khỏi tay chúng và nhào về phía vợ:

– Thả vợ tao ra! Đồ quỷ dữ!

Tên tướng cướp và gã thông ngôn cười khả ố. Gã tướng cướp ra lệnh cho gã thông ngôn:

– Cởi quần cho tao, nhanh lên! Quỳ xuống!

Người chồng đã bị trói chặt hai tay, chỉ còn cách đau đớn đập đầu xuống mặt đá, anh khóc không ra tiếng.

Pha đã ngất xỉu.

Miên nôn oẹ dữ dội trong hang.

Đến lượt tên thông ngôn lao vào cưỡng hiếp Pha, sau khi chủ tướng của hắn đã thoả mãn.

Tên thông ngôn lấy nước hắt vào mặt Pha, tát vào má khiến chị tỉnh lại, và lại điên cuồng lao vào, trước sự rên rỉ tán thưởng của gã chủ tướng.

Trước khi bỏ đi, chúng nhặt lấy người đàn bà đang bất tỉnh, tóm lấy tay và chân chị khiêng ra phía vách đá gần bờ biển, trông rõ ý chúng định ném chị xuống biển vì đã không chịu cung khai nơi cô gái đẹp đang ẩn náu.

Miên rợn cả người. Cô vừa trông thấy chỗ vách đá đó khi cô chạy qua. Dưới vách đá là vực sâu thẳm lô nhô những tảng đá tai mèo nhọn hoắt. Những con sóng dữ dằn đập tung bọt trắng vào ghềnh đá. Nếu chúng ném xuống, chắc chắn ân nhân của cô sẽ chết.

Miên cũng nhìn thấy hai tên cướp đã xốc nách người chồng, lôi anh ta trở về bãi biển – nơi những người đàn ông vẫn bị quây thành một khóm và những người đàn bà sau cuộc bị hãm hiếp với những hành vi bạo dâm của lũ cướp biển, đang bò lết hoặc nằm lịm đi. Máu rỏ ròng ròng từ trán người chồng Pha.

Tên tướng cướp cũng đã bỏ đi, sau một hồi còi từ tàu của chúng. Chỉ còn lại tên thông ngôn.Việc dùng chân hất một người đàn bà đã bị trói và đang bất tỉnh xuống biển là một điều quá đơn giản. Tên thông ngôn tự tay tranh việc giết Pha. Một bên má hắn đã bị người đàn bà cắn chảy máu. Hắn muốn trả hận.

Thân mình của Pha đã bị đặt nằm chênh vênh bên bờ vực, trên vách đá. Dưới kia là biển gầm gào hung dữ, đập những đợt sóng cao ngất đang sủi bọt trắng xoá vào chân những vách đá lởm chởm như những hàm răng cá mập nhọn hoắt.

Tên thông ngôn bỗng dừng tay, vươn vai. Hắn dùng tay trái đấm vào lưng. Có lẽ hắn đau lưng vì cuộc hành lạc quá hung hãn vừa rồi. Và hắn đã kịp cưỡng hiếp hai lần.

Miên quyết định rất nhanh, như bản năng của một con báo.

Từ chỗ nấp của mình, cô bé dễ dàng ném một hòn đá trúng gáy gã thông ngôn đang đứng bất cẩn trên miệng vực.

Gã giật người lên và theo đà lao bổ xuống miệng vực, gần như không nghe thấy tiếng đá lăn và tiếng thân người rơi, chỉ nghe một tiếng rú rồi tắt lịm.

Miên lao ra, dùng hết sức bình sinh vực người đàn bà dậy. Lúc đó Pha vừa tỉnh lại. Miên kéo chị vào hang đá.

Người đàn bà ôm lấy Miên, khóc không ra tiếng. Bao nhiêu cay đắng, nhục nhã ở trong lòng mà dòng nước mắt cũng không có cách gì gột rửa được. Miên đưa bàn tay bé nhỏ, gầy gò, vỗ vỗ vào lưng Pha:

– Cô đừng buồn! Tất cả mọi người đều bị. Miễn là còn sống. Còn hơn … Cái Hiền bạn cháu… đã bị hiếp chết rồi…!

Pha chắp hai tay:

– Cảm ơn cháu… cứu mạng cô!

Miên nói:

– Cô là ân nhân…

Pha lại khóc tức tưởi:

– Chồng cô đã nhìn thấy… cô nhục nhã quá! Ước gì cô chết ngay đi!

Miên nói:

– Cô ơi, cô chết sao được! Còn con cô. Mất mẹ từ nhỏ khổ lắm. Như cháu đây này. Cô phải sống! Cháu sẽ lớn, cháu sẽ học bắn súng, cháu sẽ vô địch.

Ngay lúc đó, có tiếng chân rậm rịch của bọn cướp quay trở lại. Chúng chờ một hồi lâu không thấy tên thông ngôn, liền nghi ngờ quay lại tìm. Chúng quần đảo khắp các mỏm đá và bụi cây, sát cạnh chỗ Miên và người đàn bà đang trú ẩn trong miệng hang. Rồi chúng nhìn thấy bờ vách đá, bờ vực sâu và bộ quần áo của tên thông ngôn chưa kịp mặc lại sau cuộc hãm hiếp còn đang vứt vương vãi. Chúng bàn tán, nghi hoặc một lúc rồi dọi đèn pin xuống vách đá. Không thấy gì ngoài bọt đá đang réo sùng sục ở dưới vực.

Miên và Pha nín thở vì quá sợ. Tiếng chân của chúng tưởng như dận từng bước lên lồng ngực bé nhỏ của cô. Chân tay tê dại vì không dám cựa quậy, sợ chỉ một tiếng động nhỏ, chúng cũng có thể phát hiện ra. Chắc chắn, nếu chúng tìm được cô và Pha đang trốn ở đây, chúng sẽ xé xác để trả hận.

Có tiếng còi tàu từ phía tàu cướp biển rú lên đến ba lần. Tàu đang giục giã để rời bến. Chính chúng cũng phải sớm rời đảo để đề phòng một bọn cướp biển khác có thể mạnh hơn chúng sẽ ghé bất ngờ và tước đoạt tất cả những gì chúng vừa cướp được và cả những gì chúng đang có. Trước khi rút đi, bọn chúng khiêng tới một can dầu, chúng rưới dầu lên khắp các khu vực quanh ghềnh đá và lối dẫn vào rừng rồi ném vào đó một chiếc bật lửa ga màu trắng.

Lửa bùng lên. Những chiếc lá khô và những cành tươi cũng bùng cháy. Gió thốc vào miệng hang rát bỏng. Khói và lửa lùa vào theo chiều hút gió của hang thông ra biển. Miên nghe tiếng quát bập bẹ tiếng Việt của gã tướng cướp:

– Ra đi! Mau ra đây! Con nhỏ. Nếu không muốn bị nướng chín.

Miên và người đàn bà cố nén tiếng ho sặc sụa. Cả hai người chỉ muốn lao thẳng ra khỏi miệng hang để tránh luồng gió và lửa cay xè, bỏng rẫy đang táp vào. Miên định giậm chân lao ra, nhưng Pha đã nắm chân cô giữ lại:

– Đừng! Thà chết ở trong này!

Chị khoá chặt người Miên trong vòng tay đang cố vận hết sức lực. Hai chị em gục đầu vào vai nhau cố tránh bớt làn gió và lửa nóng. Một phần lưng của họ đã bị bỏng. Pha và Miên đã vần đá chặn trước cửa để ngăn không cho mình lao ra, rơi vào tay bọn cướp.

Sau chừng ba mươi phút, còi tàu réo giục ba lần nữa, bọn cướp đinh ninh là không có ai ở trong hang hoặc nếu có thì cũng đã chết, bèn hối hả quay đi vừa chạy vừa chửi, lao về phía tàu rồi nhổ neo.

Miên và người đàn bà lịm đi trong hang.

Pha và Miên tỉnh lại trên bãi biển sau khi đã được những người đàn ông cùng thuyền tìm thấy khiêng về và đắp khăn tẩm nước ngọt lên mặt họ, đồng thời làm hô hấp nhân tạo.

Pha vừa tỉnh lại đã tức tưởi kêu:

– Con tôi đâu?

Ai đó đã mang đứa bé tới, đặt vào tay chị. Pha vồ lấy con, ôm vào lòng rồi đặt xuống đùi mình. Lúc này, chị mới nhận ra trên người không còn mảnh vải che thân, cũng như những người đàn bà khác. Bộ quần áo cuối cùng của chị không bị bọn cướp tước đoạt thì đã bị xé nát qua cuộc cưỡng hiếp. Chị ôm mặt khóc nức nở. Vốc cát lên che thân thể loã lồ. Lát sau chị lại gọi:

– Chồng tôi đâu?

Mấy đàn ông cùng thuyền, lảo đảo đưa một người trán bết máu tới gặp Pha. Hoá ra, người mà chị không thể nhận rõ mặt vì những vết máu ngoằn nghèo từ trán chảy xuống mặt, đang quan sát chị trong góc khuất, chính là chồng chị.

Anh tiến đến gần, định ôm lấy chị nhưng rồi lại rụt phắt tay lại:

– Trời ơi! Tôi không thể! Tôi nhìn thấy hắn… Tôi nhìn thấy chúng… quá gần, quá rõ… trên người em!

Cả hai người cùng khóc. Nổi lên cái tiếng khóc uất nghẹn của những người đàn bà xung quanh và tiếng nghiến răng của những người đàn ông.

Người trưởng đoàn còn đủ can đảm lên tiếng:

– Thôi! Cố lên! Miễn là chúng ta còn sống…

Bỗng chồng của Pha ôm đầu chạy vụt ra biển. Anh đứng trên ghềnh đá, tiếng kêu của anh nhòe trong tiếng sóng:

– Tôi không sống nổi! Đau qu…á! Nhục quá!

Rồi anh lao đầu xuống biển.

Tiếng rơi của người chồng bị nuốt chửng trong tiếng sóng gầm gào hung hãn đập tung vào ghềnh đá. Không ai còn chút sức lực nào để có thể nhảy xuống biển tìm kiếm xác anh. Họ chỉ đủ sức để canh giữ Pha không ôm con lao xuống biển theo chồng.

Hôm sau, mắt Pha ráo hoảnh.

Chị không ốm liệt như người ta tưởng. Khỏe mạnh khác thường, Pha đi dọc bờ biển để tìm xác chồng. Xác chồng Pha, sau ba ngày, cuối cùng cũng đã dạt vào bờ đá. Lũ cá đã rỉa mất hai núm vú của anh. Và một đàn cá mập con đang lao vào…

Pha dùng đá ném tơi bời đàn cá. Chị để con trên bờ, cố giành giật xác chồng với lũ cá háu đói…

© DCVOnline 29/01/2011

Tìm hiểu thêm:

Võ Thị Hảo: “Trảm” Ai “trảm”?

( HanTimes ) – Để “trảm” một nhà văn họăc một nhà báo, chỉ cần giết chết các tác phẩm và bài viết của người đó ngay ở khâu không cấp phép xuất bản. Nếu không có giấy phép mà xuất bản, đương nhiên sẽ bị phạt tiền, tịch thu tác phẩm, thậm chí tù tội và phải chịu nhiều hệ lụy về sau.


Đường tới biển – Tranh: Võ Thị Hảo

Vì ta vốn là Người

Tôi không thích kể lể. Câu chuyện sau đây tôi đã nuốt vào lòng chỉ vì nó liên quan trực tiếp đến mình. Nhưng vì ngày Nhân quyền thế giới đã thôi thúc tôi thêm một lần khẳng định rằng mình và nhân dân VN vốn và đang là con người, lại nhân dịp tôi buộc lòng phải đăng tiểu thuyết Dạ tiệc quỷ lên mạng internet vì trong nước Việt Nam chằng cho phép tôi xuất bản tác phẩm này, nên đành kể ra.

Cuối năm 2006 tôi hoàn thành tiểu thuyết Dạ tiệc quỷ (từ tháng 3/2005, tạp chí Nhà văn của Hội Nhà văn Việt Nam đã giới thiệu 3 chương trong cuốn tiểu thuyết này). Tôi đưa bản thảo (chừng 400 trang in) đến một nhà xuất bản chuyên về văn chương ở Hà Nội. Phụ trách và biên tập viên đều là người trong giới văn chương cả. Nhiều người trong số họ hào hứng đón nhận bản thảo, hứa sẽ đọc nhanh, sách có thể sớm ra mắt vì… “ báo chí và dư luận rất quan tâm sau khi đọc ba chương của Dạ tiệc quỷ… Bạn đọc đang chờ đợi tiểu thuyết này …”.

* Lại “nhạy cảm” – hãy “nạo thai”

Thời gian bản thảo lưu ở NXB này khoảng hơn nửa năm. Tôi không sốt ruột, bởi biết rằng như thực tế đã xẩy ra, bản thảo của mình có thể nhiều người để ý tới, nhiều cấp muốn “kiểm duyệt”. Trong khi đó, nhiều công ty xuất bản tư nhân và nhiều nhà xuất bản cũng muốn bỏ tiền ra đầu tư kinh doanh tiểu thuyết này, vấn đề chỉ là đợi Giấy phép xuất bản từ phía nhà nước mà thôi… Biên tập viên rất tích cực. Nhưng rồi buổi làm việc cuối cùng cũng đến. Biên tập viên trả lời bất mãn: Dạ tiệc quỷ rất hay nhưng không được cấp giấy phép vì lý do “nhậy cảm”! Chị biết đấy. Ở VN ta không có sự giải thích nào khác cho những tác phẩm tôn trọng sự thật và được gọi là “động chạm” như của chị.

Tôi chẳng biết nói gì. Ừ, ở Việt Nam mấy chục năm nay, người viết như chúng tôi làm gì có quyền công bố tác phẩm của mình. Phải đợi rất nhiều cấp xét duyệt.

Và các cấp xét duyệt ấy, sinh ra rất nhiều khi không để làm việc bảo vệ và phát triển văn hóa, văn học theo quy định của pháp luật như chức năng mỹ miều của nó đã được đăng ký với công chúng.

Hệ thống đó, ai cũng biết, sinh ra chủ yếu là để kiểm duyệt, để “khai tử”, để “bóp chết các tác phẩm “nhậy cảm” từ trong trứng”. Nếu họ không bóp chết các tác phẩm đó từ trong trứng- nghĩa là ở khâu kiểm duyệt, thì chính họ sẽ bị “xử trảm”: bị kỷ luật, cách chức, cắt mất niêu cơm và đi vất vưởng tìm việc ngoài đời…

Để “trảm” một nhà văn họăc một nhà báo, chỉ cần giết chết các tác phẩm và bài viết của người đó ngay ở khâu không cấp phép xuất bản. Nếu không có giấy phép mà xuất bản, đương nhiên sẽ bị phạt tiền, tịch thu tác phẩm, thậm chí tù tội và phải chịu nhiều hệ lụy về sau.

Những tác phẩm thiếu chất lượng, nhảm nhí, hại đến thẩm mỹ của công chúng, làm thô tục và tầm thường hóa nền văn học thì cứ cấp phép thoải mái, nhưng những tác phẩm được gọi là “nhậy cảm”- nghĩa là không đi theo lề phải, không “phải đạo” theo quan niệm của nhiều người có quyền lực, thì phải tuyệt đối “trảm” ngay từ đầu!

Tôi thở dài. Vâng, tôi còn lạ gì hệ thống này. Ngay từ sau khi giành được chính quyền, nhân dân VN, trong đó có tôi, đã được hưởng quyền bị “xử trảm” tác phẩm từ trong trứng. Vụ án Nhân văn giai phẩm và đày đọa văn nghệ sĩ còn tày liếp đó…

Muốn yên thân, muốn vinh thân phì gia, hãy vờ vịt, hãy tiếp tay và ca tụng cái ác và cái dối trá. Hãy học nghề ăn không nói có, bợ đỡ và nịnh hót. Kìa xem có bao nhiêu là người đang làm như thế mà không biết thế nào là nhục nhã. Ngươi là đàn bà, tốt nhất hãy dùng “vốn tự có”, làm cho vài quan lớn xiêu lòng và cùng họ tận hưởng phú quý. Cả đời ngươi sẽ ngồi trên đống vàng. Nào ngươi hãy quên người nghèo, quên bất công, tham nhũng, quên nước mắt, quên những vết thương lịch sử đớn đau làm bao nhiêu triệu người chết không nhắm mắt… Quên đi quên đi.

Thà ngươi cúi xuống, chăm chắm nhìn vào cái bộ phận sinh dục đàn bà của ngươi mà mô tả trần trụi theo kiều học sinh lớp 4, thì sách của ngươi sẽ lập tức được cấp phép và thậm chí còn được tổ chức những đợt tuyên truyền quy mô và rầm rộ.

Cả một chủ trương ngầm để giải thiêng, dung tục hóa văn chương, để nhà văn thực sự có tài và có lương tâm thì mất chỗ công bố tác phẩm và văn học tự đánh mất chức năng đánh thức lương tri và chức năng khai sáng…

Phải thừa nhận rằng đó là một chuỗi cử chỉ tinh vi, kéo dài đã hơn nửa thế kỷ, và đã rất thành công. Diến biến và những tai tiếng trong các Đại hội nhà văn, Đại hội các ngành văn nghệ khác là một thí dụ mà ngoài những lời bình luận của người trong cuộc và công chúng thì chẳng cần phải nói gì thêm.

Những câu trả lời ‘vì lý do nhậy cảm” cũng được lặp đi lặp lại ở những nhà xuất bản mà tôi đưa tiểu thuyết Dạ tiệc quỷ đến đến xin cấp phép xuất bản. Rồi tôi lại đưa tập truyện ngắn “Ngồi hong váy ướt” đi xin cấp phép xuất bản tiếp, dù tiên liệu trước rằng rồi lại bị từ chối thôi.

Chính xác. Ngồi hong váy ướt cũng thế, cũng bị từ chối cấp phép. Vâng, tôi đã từng biết và đã được biết nay càng thêm biết.

Ngày lại ngày, nhiều người làm báo ngậm ngùi cắt xẻo, “trảm quyết” từ trong trứng những đứa con tinh thần được họ hoặc người viết hoài thai với bao đớn đau về sự thật. Những cuộc “nạo thai” phi lý như vậy diễn ra ngày ngày giờ giờ phút phút trên đất nước này. Và thế là khiến cho cả nước thành một biển người câm lặng. Khiến cho khoảng bảy trăm tờ báo và tạp chí, chưa kể các tập san nội bộ và các nhà xuất bản lớn nhỏ, nói ngược xuôi gì rồi cũng phải về cùng một giọng. Cái giọng đó được chỉ định bởi một “Tổng biên tập” nhẩy lò cò bằng một chân phải, còn chân kia cất vào ngăn kéo để tính lập trường và tính công đã bảo vệ nền chuyên chính vô sản bằng cách giết chết các tác phẩm “nhạy cảm’ từ trong trứng, mặc dù trong thâm tâm họ biết rằng làm thế là vi phạm pháp luật và đã làm cho nền chuyên chính vô sản trở nên èo uột do đã hoàn toàn chối bỏ kháng sinh!

Tôi không nản chí. Là một người viết, tôi hiểu rõ mức độ chất lượng và giá trị của tác phẩm mình viết. Tôi hiểu quá rõ chế độ “một tổng biên tập” và mức độ quyền tự do ngôn luận được thực thi thế nào ở VN.

Trước đây, trong tiểu thuyết “Giàn thiêu” và nhiều tác phẩm khác, tôi đã phải gửi gắm những tư tưởng của mình vào các câu chuyện lấy bối cảnh và những nhân vật từ quá khứ cách đây có thể cả tới ngàn năm để “lọt” qua hệ thống kiểm duyệt. Thời chính quyền hô hào “cởi trói’ cho văn nghệ sĩ, xuất hiện những Dương Thu Hương, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài với bà đỡ mát tay tri kỷ là nhà văn Nguyên Ngọc với báo Văn nghệ cho phép đăng những cuộc tranh luận văn học nghiêm túc dài kỳ, được công chúng ủng hộ rầm rộ vì nói đúng nguyện vọng của họ đã qua lâu quá rồi.

Ngay sau đó, nhà cầm quyền đã hối hả thít dây trói lại và tiếp tục một đêm dài chủ nghĩa “phải đạo” và chủ nghĩa dung tục dối trá được vô tình cổ vũ… Tôi đã tiên liệu.

Tôi không ngạc nhiên. Tôi vẫn đều đặn ngồi trước trang giấy trắng mỗi ngày, và còn thu xếp, từ chối một số quyền lợi, gạt bỏ một số công việc, để viết nhiều hơn. Tôi viết cho chính tôi, cho bạn đọc yêu quý của tôi. Những người mà lâu lâu họ gọi điện không thấy tôi cầm máy thì liền lo lắng “có thể tôi đã bị bắt”.

Tôi viết cho cả những người chẳng biết chữ, cho những người sắp chết đuối họăc đã chết vì tai nạn giao thông. Tôi viết cho cả những người chỉ lăm le hại tôi, thậm chí sẽ ném đá tôi. Tôi viết vì muốn dọn sẵn một khoảng trời sáng sủa hơn cho người VN trong đó có tôi.

Để chúng ta được hưởng quyền làm người thực sự, trong đó không ai được cấm đoán tự do ngôn luận. Trong đó mọi chính phủ, mọi nhà cầm quyền được sinh ra, được dân trả lương là để bảo vệ các quyền của con người, chứ không phải để tước đoạt, bắt bớ giết chóc khi có ai đó nói trái ý mình họăc chỉ là để ban phát.

Rồi “trảm quyết” văn chương

Và tôi làm một việc đương nhiên: đưa bản thảo Dạ tiệc quỷ và Ngồi hong váy ướt đến đăng ký bảo hộ quyền tác giả tại Cục Bản quyền tác giả Bộ văn hóa, Thể thao và du lịch VN. Ngoài việc để bảo hộ tác quyền chính đáng của mình- mà trong quá khứ tôi đã từng bị người khác ăn cắp trắng trợn (Truyện ngắn “Máu của lá”…), tôi còn thể hiện việc công khai chịu trách nhiệm trước pháp luật về mỗi dòng tôi đã viết ra trên giấy trắng, cho dù chúng vẫn bị nhốt trong bóng tối với dụng tâm “bóp chết từ trong trứng” vì không được phép xuất bản.

Đầu tiên, cán bộ Cục Bản quyền tác giả đã đón tiếp tôi nhiệt tình. Họ còn tỏ ý hoan nghênh một nhà văn như tôi đã luôn biết tìm đến nơi bảo vệ quyền tác giả chính đáng của mình.

Một tháng sau, đúng ngay trước dịp Tết Độc lập (2/9/2010) của người dân thuộc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa VN, tôi khấp khởi đến Cục. Lần này các nhân viên không trả lời, chỉ cho tôi đến gặp trưởng phòng. Thọat nhìn bốn bản thảo (phải nộp mỗi tác phẩm 2 bản coppy) của mình trong những ngón tay lập cập của người trưởng phòng và sự bối rối, không thể nhìn thẳng vào mắt người đối thoại của anh khi giải thích, tôi mới linh cảm rằng có chuyện gì đó bất ngờ.

Quả vậy, ngoài sức tưởng tượng của tôi, Trưởng phòng trả lời: chị thông cảm, hiện nay chúng tôi không thể đăng ký quyền tác giả cho các tác phẩm này”.

Tôi bị sốc. Hỏi vì sao, có văn bản nào quy định không, thì anh khổ sở trả lời: “bất thành văn chị ạ. Chị biết đấy, vì lý do “nhạy cảm”… Chị thông cảm cho chúng tôi…”.

Cục bản quyền tác giả là một cơ quan tồn tại bằng tiền thuế của nhân dân, làm công việc xác nhận, bảo hộ quyền đương nhiên, quyền tối thiểu là quyền sở hữu tác phẩm của tác giả. Tôi mang tác phẩm đến đăng ký, là tôi công khai, đàng hoàng chịu trách nhiệm về mỗi chữ mỗi dòng trong tác phẩm của mình dù đã công bố hay chưa công bố. Luật pháp VN cũng quy định như vậy.

Cục bảo hộ quyền tác giả không phải là nơi có quyền và trách nhiệm xem xét nội dung, chất lượng nghệ thuật của bản thảo để quyết định cho công bố hay không công bố. Cục chỉ cần xác nhận hay không xác nhận: Quả trứng này là của con gà này đẻ, không phải của con gà kia, thế thôi.

Ai đã tước đọat của tôi quyền đương nhiên sở hữu tác phẩm mình viết ra?

Nếu tước đọat của tôi quyền đó, phải chăng, Cục và bàn tay vô hình bí mật nào đó muốn khuyến khích cho những kẻ trộm cắp bỉ ổi cướp đọat quyền sở hữu tác phẩm của tôi?

Ngoài việc đồng hành cùng nỗi đau của con người, tôi đã làm gì để họ đối xử như vậy?

Ngoài tôi ra, có bao nhiêu tác giả bị tước đọat quyền xuất bản và quyền sở hữu tác phẩm như thế trên đất VN ở thế kỷ 21 này – ở năm thứ 795 sau khi người Anh công bố Hiến chương Magna Carta trong đó có có những điều khoản về Đạo luật nhằm bảo vệ quyền Con người; ở năm thứ 62 sau Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, và cũng đã ở năm thứ 33 sau khi VN ký cam kết tuân thủ Công ước Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, trong đó đương nhiên có quyền tự do ngôn luận!

Bao nhiêu tác phẩm có lương tri và đồng hành cùng sự thật, tôn trọng những quy định của pháp luật VN nhưng đã bị những bàn tay không lộ diện “xử trảm” từ trong trứng?!

Lúc đó tôi thực sự muốn nổi điên, muốn to tiếng với anh trưởng phòng của Cục BHQTG. Nhưng rồi, tôi im lặng. Tôi nhìn vẻ mặt bối rối không biết nói thế nào cho phải của anh và thấy ái ngại. Ái ngại và sợ hãi. Sợ một lần nữa phải nghe câu trả lời quen thuộc: “lý do nhậy cảm…”.

Hôm đó là ngày 30/8/2010. Hà Nội và cả nước VN đang đỏ rực cờ hoa và khẩu hiệu đón Tết Độc lập lần thứ 65 và đại lễ 1000 năm Thăng Long Hà Nội.

“Xử trảm” một lúc hai tác phẩm – đó là món quà đặc biệt dành cho tôi nhân kỷ niệm 65 năm VN được gọi là “giành được độc lập tự do” đấy chăng?!

Tôi mệt mỏi trên con dốc nhỏ từ Cục bản quyền tác giả lên đường Hoàng Hoa Thám tấp nập xe cộ. Đỉnh dốc trước mặt nổi rõ một băng vải đỏ dài rộng căng cao, hàng chữ nhựa màu vàng sáng lóa: “Không có gì quý hơn độc lập tự do”!

* Bây giờ thì nhân danh những người khóc

Tôi có thể đưa bản thảo tiểu thuyết Dạ tiệc quỷ và Ngồi hong váy ướt lên mạng Internet hoặc gửi in ở nước ngoài từ lâu. Nhưng tôi muốn chờ đợi để bạn đọc của tôi ở trong nước được chia sẻ nó trước.

Đến nay thì đã vô vọng. Bốn năm chờ đợi, tôi nghĩ đã quá đủ. Tôi cần chia sẻ nó với bạn đọc. Ngay bây giờ. Vì những vấn đề của cuộc sống và thời đại hiện tại đang được phản ánh mãnh liệt, da diết trong đó. Và tôi phải đẩy chúng ra đời, bởi tôi lại đang viết cuốn tiểu thuyết khác: “Rừng đoạn đầu” – về một giai đọan đầy tàn bạo và đau thương, luôn vì thủ cựu, tham lam và dốt nát mà làm lỡ thời cơ cả trăm năm của đất nước Việt Nam. Tôi phải viết chúng ra. Ôi tôi mắc nợ quá nhiều những ám ảnh đau thương và các oan hồn. Tại sao họ cứ tìm tôi để kể và để khóc? Trong khi cũng như ai, tôi muốn được yên thân.

Nhân danh những người khóc, nhân danh tự do và quyền con người cho tôi và cho người dân Việt Nam, hôm nay, ngày Nhân quyền thế giới – cái ngày tuyệt vời nhất mà con người có thể nghĩ ra, tôi chia sẻ cùng bạn đọc tiểu thuyết Dạ tiệc quỷ trên mạng Internet qua DCV online, mong cho người VN dù ở bất cứ đâu cũng đều có thể đọc.

Tôi kể cùng bạn đọc câu chuyện trên. Để góp phần thúc đẩy cho một ngày, người VN được thực sự làm con người đang sống với đầy đủ quyền tự do ngôn luận. Không ai có quyền ban phát hay tước đoạt quyền đó của chúng ta./.

Advertisements

Leave a comment

Filed under Uncategorized

Comments are closed.