NÓI LÁI TRONG NGÔN NGỮ VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM (2)

Nói lái vẫn là một hình thức vô cùng đặc sắc của ngôn ngữ Việt, với khả năng nhạy bén về tính trào phúng, tính châm chọc… chúng ta tin rằng nói lái sẽ tồn tại với người Việt. Nếu ai đó hằng quan tâm đến nền Văn học sử nước nhà, xin một lần ghé mắt đến nghệ thuật Nói lái, xem nó như một bộ phận của Văn học Dân gian Việt Nam …

5/- Nói Lái trong Thi Văn :

Thi Văn là một trong những bộ môn Văn học Nghệ thuật. Muốn trở thành nhà thơ, người làm thơ ngoài cái thiên tư đặc biệt, cái tâm hồn nhạy cảm với thiên nhiên với con người, với vạn vật…còn phải biết rõ về qui luật bằng trắc, cách gieo vần và các thể loại. Làm một bài thơ đúng luật đã khó rồi, huống hồ làm một bài thơ nói lái lại càng khó hơn nữa. Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu một số bài thơ Nói Lái để thấy sự tài tình của các nhà thơ dân gian và sự phong phú của tiếng Việt.

Trước hết là bài thơ “Nhớ Bạn” của cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vy (mất năm 1968). Cụ là người cùng thời với cụ Ưng Bình Thúc Giạ thuộc thế hệ cuối cùng của Quốc tử giám:

Nhắc bạn những thương tình nhạn bắc,
Trông đời chỉ thấy cảnh trời đông.
Đêm thâu tiếng dế đâu thêm mãi,
Công khó chờ nhau biết có không !

Bài thơ nầy còn có thêm một bản khác như sau :

Dòng châu lai láng, đĩa dầu chong,
Công khó đợi chờ, biết có không ?
Nhắc bạn thêm thương người nhạn bắc,
Trông đời ngao ngán giữa trời đông.

Còn đây là bài thơ “Đêm đi đò Đập Đá” cũng của cụ Thảo Am :

Đập cũ đò đưa đủ cặp đời,
Trời cho sức khỏe lắm trò chơi.
Có đôi, khi rảnh lên côi đó,
Cười ngả nghiêng cho mệt cả người.

và bài :

Cầu đạo cần chi phải cạo đầu,
Dầu lai dưa muối cũng dài lâu.
Na bường bát tới nương bà vãi,
Dầu sãi không tu cũng giải sầu.

Cụ Thảo Am còn viết một bài thơ khác năm 1946 sau khi nghe tin giặc Pháp chiếm lại đồn Mang Cá :

Lũ quỷ nay lại về luỹ cũ,
Thầy tu mô Phật cũng thù Tây.

Tiếp theo, là bài thơ “Lỡ thì bát Phố” của Y Nguyên :

Ngày tối mơ màng một mối tơ
Mơ chồng nên luống nhũng mong chờ
Có người phơi phới vui cười ngó
Riêng tớ êm rơ tiếng khóc hờ

Liên tục là những bài thơ của Lão Dương (bút hiệu là Dưỡng Lao) đối đáp với các phu nhân của ông.
Đầu tiên là bài “Vòi vĩnh vợ, vợ vờ vĩnh”
Chồng yêu mà vợ chẳng chiều ông,
Lại tống lầm đi một tấm lòng.
Biết vậy thà ngồi mà viết bậy,
Bế bồng khăng khít cũng bằng không !

Bùi Tiến trả lời thay Lão Dương đại phu nhân bằng bài thơ “Có nên chiều ông chồng yêu ?”:

Không ông đâu được phải không ông ?
Nghe lóng rồi ra cũng rối lòng.
Táo bạo, xưng ông, chà táo bạo,
Chồng khiêu khích vậy, đáng chiều không ?

Liền sau đó, Lão Dương đại phu nhân bổ túc ý của Bùi đại nhân bằng bài thơ mang tên “Chê Chồng Chí Chóe” :

Lòng thòng em quá, chẳng thèm ông,
Long tong lờ lửng sợi tơ lòng.
Lài rài mấy chén xong rầy mãi,
Lốc thốc khinh đời rứa thích không ?

Kế tiếp là bài “Vợ Vẫn Vấn Vương” của Nhị phu nhân:

Chồng ơ thờ mấy cũng chờ ông,
Lêu lỗng tầm đâu được tấm lòng.
Cậy chàng yên vị, ông càng chạy,
Công khó chờ ông biết có không ?

Nhằm lên tiếng cho Tam phu nhân, Tùng Linh có bài “Mèo nào cắn Mĩu nào” như sau :

Chồng ôm thủ thỉ bám chồm ông,
Long đầu hai vị chớ đau lòng.
Tắc tíc gia truyền môn tíc tắc,
Khởi công khe hở khẽ cởi … không !

Không ngờ vừa lên tiếng, Tam phu nhân bị Nhị nương và Tứ nương “sửa lưng” qua bài “Lửa Tam Muội – Quạt Ba Tiêu”:

Đã bốc ăn rồi lại bắt ông,
Buông lỏng, lừa nhau cướp lửa lòng.
Quạt Ba Tiêu bạt qua Tam Muội,
Lộc bổng kho đầy lại bỏ không !

Bùi đại nhân lần nữa thay mặt Lão Dương đại phu nhân nhắn nhủ qua bài “Gửi các Phu Nhân Bé”:

Bồng, A ! ba bốn cũng Bà Ông,
Lừa lọc đuờng đời, cốt được lòng.
Cát Lũy cố ganh phần Quý Lạt,(?)
Công không yên phận kẻ công không !

Cuối cùng, Lão Dương nghe các bà om sòm ỏm tỏi, chẳng những không đòi dưỡng lao mà còn dọa sẽ nổi dóa bốc đồng lên qua bài “Bịt mồm bốn mụ”:

Mọi phòng yên hết ! Chớ phiền ông,
Cả rống làm ông rối rắm lòng!
Xáo, xào không học, lo xào xáo,
Ông bốc, khiêng bà nữa, biết không !

Thế là, cuộc đối đáp vô cùng độc đáo giữa Lão Dương và các phu nhân chấm dứt, nhường chỗ cho người kế tiếp là cụ Thảo Am với bài thơ “Trách bạn phụ tình”

Mau sai lời nguyện ước mai sau,
Niết bỏ nhau thà nỏ biết nhau.
Nắng đổi mưa thay nhiều nỗi đắng,
Chán chưa tình lệ chứa chan sầu !

Tiếp theo là “Bài thơ xuân” được viết theo thể thơ Đường luật và một bài thơ Lục bát của Việt Nam từ trên Web Yahoo 360 độ, không đề tên người viết :

Phấn lau chưa dứt nghe pháo lân,
Tân niên rót rượu mời Tiên nâng.
dâu hứa đãi ăn dưa hấu,
Chú rể tinh thần tựa tình thân.
Có ông phó đảo châm pháo đỏ,
Chú lính xuân qua muốn xa quân.
Mang vài chậu kiểng mai vàng rộ,
Xin tuần nghỉ phép thoả tình xuân.
Về thường thăm lại vườn thề,
Buồn lo trăm mối não nề bò luôn.
Cuộn cho dùi mập cọ chuông,
Người giàu sâu hiểm, chớ buồn dầu sao.
Đau lòng lên tận Đông Lào,
Thầy tăng ra đón, vẩy chào thằng tây.
Tây đà vốn biết ta đầy,
Bầy gà tre gạ đổi ngay ghe trà.
Chả thằng nào bảo chẳng thà,
Đổi trao như vậy chắc là đảo trôi.
Vội ta mắc phải vạ tôi,
Đành thôi vá chiếu về ngồi đồi thanh.
Bánh ong để dưới bóng anh. . . . .(bánh tổ ong)
Ăn rồi chợt nghĩ lanh quanh: Ôi rằng !
Bắn trong khung vẽ bóng trăng,
Làng thâm u quá cũng bằng lầm than.
Ngang vài cung gấm ngai vàng,
Khổ lòng ngắm thử y chang khổng lồ.
Cố ra tìm bắt cá rô,
Kho chi một tộ khi cho họ mừng…

Tiếp đây là bài thơ phá thể của Ông Tôn Thất Đàm ở Úc nhan đề “Má Con” như sau:

Má đưa con đi trong mưa đá
Má đặt con lên mặt đá bằng
Má đi vào xem mi đá bóng
Má đang mang đá tới lót nền
Má lột một lá dính vào phên
Má lấy bên hè đi mấy lá
Má lòn mòn lá cửa ngoài hiên
Má cần mần cá để kho liền
Má cắt con mắt cá đầu tiên
Má cũng mua đầy hai mủng cá
Má can con ăn mang cá kình.

Và một câu tương tự nhưng của người khác :

Má Cúc múc cá đem đi bán.
Má cắt ống quần cao hơn mắt cá.

Đọc qua những bài thơ trên đây, chúng ta thấy làm thơ nói lái quả là không dễ. Vậy mà vẫn có những bài thơ tuyệt tác được ra đời, được lưu truyền qua nhiều thế hệ chứng tỏ người Việt Nam đầy sáng tạo và tiếng Việt thật vô cùng phong phú. Xin đọc tiếp bài thơ “Nhắn bạn” sau đây để xác minh điều đó :

Làng vọng còn hơn cái lọng vàng,
Mang sơ tấm áo, chớ mơ sang.
Nhắn bạn lên non đừng bắn nhạn,
Hang lỗ tìm vào bắt hổ lang.

Hoặc là :

Trông khống vô phòng thấy trống không ,
Chứa chan sầu lệ chán chưa chồng.
Dòng châu lai láng dầu chong đợi,
Bóng nhạn lưng chừng, bạn nhóng trông !

Hay một bài thơ khác:

Đời chua, bậu cứ thử đùa chơi
Chơi ngổ xong rồi, kiếm chỗ ngơi
Bến đậu thênh thang, mời bậu đến
Ngồi đây say tít, ngất ngây đời.

Câu cuối của bài thơ ngồi đây đã bị ép thành ngây đời. Điều đó chứng tỏ nói lái thành thơ, không phải dễ dàng !

Ấy vậy mà bài thơ sau đây sẽ còn làm chúng ta thật sự ngạc nhiên về sự phong phú, đa dạng của ngôn từ tiếng Việt cũng như sự tài tình của nhà thơ. Nếu ai định dịch nó sang ngôn ngữ khác, chắc là phải bó tay! (khi đọc nhớ lái ở ba từ cuối mỗi câu sẽ thấy):

Mỗi độ xuân sang chả có gì ! (chỉ có già)
Giàu sang, keo kiệt để mà chi? (đĩ mà chê)
Vui xuân chúc tết cầu gia đạo, (cạo da đầu)
Cạn chén tiêu sầu tiễn người đi. (tỉ người điên)

Sau hết là bài thơ Đường luật hiếm hoi của người đất mũi, gởi tặng đồng hương và những người thích Nói lái :

CÀ MAU thế đất chẳng CAO MÀ.
ĐẤY MUỖI, đĩa nhiều, ĐUỔI MẤY ra.
HƯƠNG TRÀM thơm ngát, HAM TRƯỜNG cũ.
LÁ ĐỘ tàn thu LỘ ĐÁ tà.
ĐẦY LÒNG thương mến, ĐỒNG LẤY nhớ.
CỔNG XƯA liền với, CỬA SÔNG nhà.
AI GÌN tổ quốc, IN GIÀY trận?
ĐUỔI MẤT Cộng thù, ĐẤT MŨI ta.”

6/- Nói lái trong thơ Hồ Xuân Hương :

Hồ Xuân Hương (1772-1822) là nhà thơ Nôm nổi tiếng, đã để lại nhiều bài thơ độc đáo với phong cách thơ vừa thanh vừa tục và được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm. Hồ Xuân Hương được coi là một trong những nhà thơ tiêu biểu của Văn học Việt Nam giai đoạn nửa cuối thế kỷ 18, nửa đầu thế kỷ 19. Bà còn là một hiện tượng độc đáo nhất và chắc chắn cũng là một nữ sĩ độc đáo nhất trong nền Vǎn học cổ điển Việt Nam.

Đặc biệt, danh sĩ nổi tiếng Hồ Xuân Hương đã khéo léo đưa cách Nói lái vào trong thơ vô cùng độc đáo và linh động. Có lẽ bà hay đùa cợt hoặc vì bà căm tức những hạng người kém cỏi trong xã hội hay vì thái độ phản kháng trong xã hội phong kiến Việt Nam đương thời nên dùng thi văn để bày tỏ. Và nhờ cách nói lái quá tài tình, quá táo bạo mà tiếng cười trong thơ của bà thêm ý mỉa mai sâu sắc..

Hồ Xuân Hương với những bài thơ tả vật, tả cảnh đã dùng những hình tượng, chữ nghĩa rất táo bạo, rất tượng hình, tượng thanh khiến cho người ta thường nghĩ ngay đến các “chỗ kín” của đàn ông, đàn bà hay những quan hệ tình dục giữa nam nữ, như một ám ảnh tâm lý, nếu nói theo các nhà phân tâm học ( như Vịnh Cái quạt, Đánh cờ người, Quả mít, Đèo Ba Dọi…)

Cái kiếp tu hành nặng đá đeo,
Vị gì một chút tẻo tèo teo.
Thuyền từ cũng muốn về Tây Trúc,
Trái gió cho nên phải lộn lèo. (Kiếp Tu Hành)

Quán sứ sao mà cảnh vắng teo
Hỏi thăm Sư cụ đáo nơi neo ?
Chày kình, tiểu để suông không đấm,
Tràng hạt, vải lần đếm lại đeo.(Chùa Quán Sứ)

Giọt nước hữu tình rơi lõm bõm,
Con đường vô ngạn tối om om.
Khen ai đẽo đá tài xuyên tạc
Khéo hớ hênh ra lắm kẻ dòm.(Hang Cắc Cớ)

Đang cơn nắng cực chửa mưa hè,
Rủ chị em ra tát nước khe.(Tát Nước)

…Thú vui quên cả niềm lo cũ
Kìa cái diều ai nó lộn lèo.( Quán Khách)

Chàng với thiếp đêm khuya trằn trọc,
Đét đồn lên đánh cuộc cờ người. (Đánh cờ người)

Ngoài ra, còn có một câu đối lái rất “mặn” sau đây, có người cho là của Hồ Xuân Hương nhưng có người lại cho là của Phạm Đình Hổ (?)

Tán vàng, lọng lá, che đầu nhau đỡ khi nắng cực,
Thuyền rồng, mui vẽ, vén buồm lên rồi sẽ lộn lèo.

Nhằm tiếp nối truyền thống nói lái “Thần sầu Quỷ khốc” của Hồ nữ sĩ, chúng tôi xin trích dẫn một bài thơ nói lái của một tác giả vô danh nhan đề là “Trông Trời” (xin đọc theo kiểu Bắc kỳ là Chông Chời):

Cô kia sao cứ trông trời,
Để tôi xin nguyện làm trời cô trông.
Trông trời sướng lắm phải không ?
Trời mà trông lại còn mong nỗi gì !

Sau đây lại thêm một bài thơ khác theo kiểu nói lái :

Ban ngày lặt cỏ tối công phu,
Đậu ủ lâu ngày hóa đậu lu.
Ngày ta địa chủ, đêm tu đạo,
Đạo chi lạ rứa: “Đạo ù ù”!!!

Chắc chắn là còn có rất nhiều bài thơ “Nói lái mặn” như thế nầy đang được truyền miệng trong dân gian nhưng vì sợ các nhà Đạo đức không được hài lòng nên tạm “chức dấm”.

7/- Quảng Nam nói lái : (theo Huỳnh Ngọc Chiến)

Nước ta có rất nhiều vùng nói lái, và mỗi vùng đều ít nhiều mang một sắc thái riêng, nhưng cách nói lái hòa nhập tự nhiên trong ngôn ngữ đời thường có lẽ phải nói đến vùng đất Quảng Nam.

Giọng Quảng Nam phát âm rất sai :
– các phụ âm v, d ở đầu chữ,
– các phụ âm c, t ở cuối chữ,
– các nguyên âm a, ă cùng các điệp nguyên âm đi chung với nó như ao, ắt …

Đặc biệt là các âm “g” ở cuối chữ và các dấu “hỏi”, dấu ”ngã”. Khoai lang và hoa lan được đọc thành một âm.

Nhưng chính đặc điểm nhập nhằng không rõ ràng trong phát âm lại là miếng đất màu mỡ cho Nói lái phát triển. Nói lái kiểu Quảng Nam thường mang đặc điểm “chém to kho mặn” của người dân vùng đất này, nghĩa là người ta khoái nói lái “mặn”. Trong các nhóm chữ nói lái đó, hầu hết đều nhắc đến bộ phận kín đáo trên cơ thể hoặc những điều bị xem là “vùng cấm kỵ” trong ngôn ngữ. Thông thường người có “văn hóa” ít hoặc không bao giờ nói đến những “vùng cầm kỵ”, dầu đó là những vùng mà họ luôn xâm nhập vào và luôn nghĩ đến. Chỉ có người bình dân mới dám mạnh dạn nói cái mình nghĩ dưới hình thức Nói lái, dầu chỉ để thư giãn.

Trong đời thường, những câu chuyện tiếu lâm “mặn” đôi khi lại kéo lại gần nhau hơn những người còn đang e ngại nhau trong buổi sơ giao. Lạm dụng tiếu lâm “mặn” hay lói nói lái “mặn” thì dễ trở thành suồng sã, nhưng nếu dùng đúng liều thì nó có thể trở thành một chất kết chặt tình thân.

Trong cuộc nói chuyện thường ngày, người dân Quảng Nam thường luôn luôn tận dụng mọi cơ hội Nói lái để góp thêm tiếng cười. Dường như người dân Quảng Nam nào cũng mang sẵn máu tiếu lâm trong người nên họ thường tiếp thu Nghệ thuật Nói lái rất nhanh và nhạy bén.

Các cô chủ quán người Quảng Nam tại các quán nhậu, ngoài bản chất nói lái cố hữu, dường như được “trui rèn” thêm qua nền ”Văn hóa nhậu” nên khả năng nói lái đáng nể, khiến ngay các “Chuyên gia nói lái” Quảng Nam cũng lắm khi phải chịu bái phục. Tên các món ăn thức uống đều trở thành phương tiện để đùa bỡn, chọc ghẹo nhau :

– Lươn thì phải có món lươn nấu với rau dền, hay gọi tắt là lươn dền.
– Dưa leo thì phải là loại leo đá và phải được thái dọc ăn mới ngon.
– Mực thì món đặc biệt vẫn là mực xào với ngò, tức món mực ngò.
– Thịt rừng thì phải là thịt rừng nướng, riêng thịt chồn thì phải lùi trong than mới đúng cách.
– Món thịt kỳ nhông được gọi là món “khủng long đời cuối”, nhưng khi gọi thì các bợm nhậu không quên hỏi cô chủ quán có thích món long nền (lên nòng) hay không.

Ăn mít phải chọn mít đặt và có người đút cho thì ăn mới thấy ngon.
Ăn cốc thì phải đạp cho mềm, đừng ăn loại cốc đắng.
Ăn lẩu thì phải đốt bằng cồn Lào hoặc cồn lỏng mới mau sôi hơn cồn đặc!

Người dân quê được gọi là người ở các “làng thôn”. Một đức ông chồng gây gổ đánh vợ, bạn bè hỏi, anh ta trả lời : “Giận thì làm vậy chứ tui có đánh đấm chi đâu, có đánh bả cũng chỉ là đánh mẹo thôi mà”.

Hạt dền xào với da lươn,
Cùng ba xi đế lên giường … chờ trăng
Phân bò trộn với phân trâu
Thêm tro, xới kỹ cho bầu ra hoa.

Ở Quảng Nam, người nào có tài nói lái thì được khen là người nói lái giỏi, ngược lại là nói lái dở. Nói lái nhanh quá gọi là nói lái dọt và nhiều quá thì bị chê là nói lái dồn. Những người thích nói lái chắc chắn sẽ tìm thấy nhiều điều lý thú bất ngờ khi tìm hiểu cách nói lái của người Quảng Nam. Bên cạnh những điểm tinh tế về ngôn ngữ, ít ra là nó sẽ tạo những trận cười sảng khoái và thắt chặt thêm mối tình thân bên chén rượu.

8/- Nói Lái thời Xã hội Chủ nghiã :

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, người dân miền Nam nói riêng và cả nước nói chung đều lâm cảnh điêu linh, lầm than và đói khổ. Trong hoàn cảnh khắc nghiệt dưới sự cai trị của chế độ Cộng Sản, người ta thường dùng Ca dao, Tục ngữ hoặc những câu chuyện Tiếu lâm để nói lên thực trạng của xã hội hay bày tỏ thái độ phản kháng của họ bằng cách truyền miệng nên không biết ai là tác giả thực sự. Dĩ nhiên, hình thức Nói lái cũng được tận dụng tài tình nên trong dân gian đã có những câu nói lái rất phổ thông từ Nam ra Bắc:

– Quy mã là qua Mỹ hay Mã quy là Mỹ qua. (Chuyện kể rằng : Vào cuối năm 1979, sau khi bị đàn anh Trung quốc dạy cho bài học đích đáng, bọn chóp bu CS Hà nội đâm ra lúng túng vì mất chỗ dựa vững chắc, cộng với nền kinh tế kiệt quệ do hậu quả chiến tranh để lại nên bọn họ tìm cách cứu nguy chế độ nhưng chưa biết cách nào. Nghe thiên hạ điềm chỉ, bọn họ ra bờ hồ Tây đặt bàn cầu khẩn nhờ thần Kim Quy chỉ giúp. Quả nhiên, từ giữa hồ bỗng nổi lên con rùa, sau đó lại có thêm con ngựa. Cả bọn bàn nhau Con rùa là Quy, con ngựa là Mã. Quy Mã là qua Mỹ. Nhưng nghĩ lại, mình vừa chửi Mỹ là đế quốc, là kẻ thù số 1 nên không thể làm theo lời Thánh dạy. Thế là bọn họ bàn nhau cầu khẩn thêm lần nữa. Lần nầy thì con ngựa nổi lên trước con rùa, nên bàn rằng Mã Quy tức Mỹ qua. Vậy là nhờ Thần Rùa hướng dẫn mà chế độ còn “bò” được cho đến ngày nay).

– Kỹ sư đôi lúc làm cư sĩ,
Thầy giáo lắm phen cũng tháo giầy.
Giáo chức giờ đây đành dứt cháo,
Khoái ăn sang nên… sáng ăn khoai.

(Thật là đau lòng cho giới trí thức, vì họ không thuộc giai cấp bần cố nông để được chế độ mới trọng dụng nên đành phải ăn khoai và dứt cháo !).

Nói về tệ nạn cửa quyền tham nhũng của chế độ và các tệ nạn thì dân gian có các câu nói lái :

– Thủ tục đầu tiên là ..Tiền đâu ? (tức là viên chức Nhà nước ăn hối lộ công khai)
– Vũ Như Cẩn là Vẫn như cũ.(mặc dù CS tuyên truyền là có tự do bầu cử nhưng kết quả vẫn là những tên chóp bu lâu đời do Đảng chỉ định sẵn)
– Nguyễn Y Vân là Vẫn Y Nguyên.(vẫn những tên lãnh đạo cũ chớ không có gì thay đổi)
– Bùi Lan là Bàn Lui.
– Hộ khẩu là Hậu khổ.
– Chà đồ nhôm là chôm đồ nhà. (vì thuộc gia đình ngụy quân, ngụy quyền nên con cháu không được thu dụng vào bất cứ cơ quan nào vì lý lịch không tốt theo quan điểm của chế độ CS nên phải chôm từ từ đồ đạc trong nhà để bán, tạm sống qua ngày)
– Bác Hồ vĩ đại là Bác Hồ dại đĩ. (nghiã là Bác Hồ có bao nhiêu tiền đều đem cho mấy cô gái mãi dâm ăn hết)
– Đem Bác Hồ lộng kiếng tức là Đem già Hồ liệng cống.
– Bảng đỏ sao vàng là Bỏ Đảng sang giàu.(Cho nên hiện nay, ngoài mặt thì xưng là Đảng viên cao cấp để nắm chức quyền nhưng thực chất bên trong thì đã hủ hóa, tham ô lãng phí nên đã trở thành những nhà Tư bản đỏ giàu sang tột bực, tài sản lên đến hàng triệu, hàng tỉ Mỹ kim, bây giờ gọi là Đại gia).
Nhằm đả kích chế độ thì thiên hạ có câu :
– Con đường Bác đi, đường bi đát,
– Chán bảng đỏ, nhiều anh bỏ đảng.
– Đảng trương bảng đỏ, dân đòi bỏ đảng.
– “Tự do” là cái “rọ tư”
Mỗi người một rọ chẳng từ một ai.

Chỉ riêng ngành giáo dục, đã có nguyên một bài nói lái “Tự thán” như sau :

Thầy giáo tháo giày đành đi dép,
Nhà trường nhường trà uống nước trong.
Tháng đầy, thầy đáng dăm lon gạo,
Lương thầy tiền lính, tính liền xong !

Hoặc là :

Thầy giáo tháo ủng tháo giày,
Tháo ủng thủng áo tháo giày nóng chân.
Giáo án dành lại khi cần,
Thay vải dán áo việc làm tốt thôi !

Và đến khi về hưu trí thì đành :

– Lấy lương hưu để lưu hương. (Bởi vì tiền hưu dưới chế độ CS chẳng được bao nhiêu nên chỉ để dành đó mà ngửi !)

Nhiều khi được Nhà nước mời lên Trụ sở Ủy ban kêu gọi “hiến” tài sản hay bất cứ vật gì đó mà nhà cầm quyền mong muốn :

– Nhường luôn hết cả nhà xe, nhè luôn hết cả xương.
– Nhường luôn miếng đất, nhất luôn cả miếu đường.
– Nhường tới tận vườn sau, nhàu luôn tới tận xương.
– Nhường tới cái túi, nhúi…tới cái tường.

(Thật sự, bạo quyền CS đã dồn người dân tới tận chân tường, chắc chắn sẽ có họ nhất tề nổi dậy và ngày chế độ CS tan rã không còn xa lắm !).

9/- Nói lái trong tiếng Anh và Pháp :

Đất nước Việt Nam bị thực dân Pháp đô hộ gần 100 năm và từ ngày 30/4 năm 1975 đã có hơn hai triệu người Việt lưu vong đang sinh sống nơi hải ngoại mà đa số ở các nước nói tiếng Anh. Vì vậy, có rất nhiều người nghe và đọc hiểu tiếng Pháp hoặc tiếng Anh. Không rõ là trong ngôn ngữ Anh-Mỹ và Pháp có nói lái được không, xin các bậc cao minh vui lòng chỉ giáo, nhưng có hai giai thoại về nói lái trong tiếng Anh và tiếng Pháp xin được kể như sau :

1)- Cô Chín hồi còn ở Việt Nam nhà ở gần bến đò nên được gọi là “Chín bến đò”. Cô Chín qua Mỹ được hai năm nên cũng học được chút ít Anh ngữ đủ đi siêu thị và thanh toán tiền bạc.

Hôm nọ, cô vào Thương xá để mua sắm quần áo. Cô đang say sưa ngắm nghiá các mặt hàng thì cô bán hàng tiến đến hỏi :
– Hello ! May I help you !
Cô Chín bị hỏi bất ngờ nên luýnh quýnh :
– Yes, yes…I just took a lake ( thật ra là phải nói “I just take a look”) Không biết cô bán hàng có hiểu hay không nhưng cũng “yes, yes” rồi đi nơi khác.Từ Take a look nói lái thành Took a lake thì chỉ có người Việt nói và hiểu mà thôi !

2)- Chuyện kể như thế nầy : Có ông Tây dẫn bà “me Tây” vào cửa hàng bách hóa định mua một cái quạt máy. Sau khi chọn được món hàng, ông Tây hỏi bà Đầm có hài lòng không để ông trả tiền nhưng bà Đầm thấy giá tiền cao quá nên trả lời “trop cher !”(mắc quá) nhưng có lẽ vì vô tình nói lái thành “très chaud !”(nóng quá) nên ông Tây lật đật mua cho bà vì tưởng bà đang bị nực nội. (từ “très chaud” nói lái thành “trop cher” nên có giai thoại nầy)

10/- Nói Lái trong sinh hoạt hàng ngày :

Theo sự nhận xét của Mai văn Sang trong bài “Cái hay của Nói lái” thì qua quá trình giao tiếp hàng ngày trong xã hội, người ta thường dùng cử chỉ, điệu bộ, biện pháp tu từ… để lời nói thêm sinh động, phù hợp với thế giới cuộc sống muôn màu muôn vẻ. Trong đó, hình thức “nói lái” có những nét độc đáo thường được người nói chú ý.

Trẻ em dùng hình thức nói lái như một dấu hiệu riêng để trao đổi thông tin với nhau. Chẳng hạn như
– “Tùng ơi đi chơi” thành ra “Tời ung – đơi chi”,
– “ăn cơm” thành ra “ơm căn”, “đi tắm” thành “đâm Tý” , “đá banh” thành “đánh ba”, “muốn chồng” thành “mống chuồng”…

Những lúc quây quần đùa giỡn, các em không dùng từ thể hiện ý nghĩa trực tiếp mà dùng cách nói lái để chọc ghẹo nhau, ví như không nói “mít ướt” mà nói “mướt ít”, không nói “đầu bò” mà nói “đò bầu” thay vì rủ “đi tắm” nói thành “đâm tý” hay “đâm chuột” hoặc muốn đi cầu thì nói đi “bứt cỏ”…với cách nói này, các em không cần phải học tập sách vở mà vẫn biết.

Trong cuộc sống hiện đại, người lao động thường tập trung vào công việc, dễ gây mệt mỏi vì vậy họ cũng thích nói lái để tạo sự hài hước, dí dỏm vui tươi. Đương nhiên là câu nói lái phải phù hợp với hoàn cảnh. Thí dụ như trong những lúc chung vui bên bàn tiệc thì người ta lại cao hứng:

– âu cái đằn ăn cái đầu,
– ê cái mằn ăn cái mề,
– uống ít ly uống y một lít,
– hạ cờ Tây hạ Cầy tơ làm thịt Chó con.
– quán Mộc tồn ( Mộc tồn nghiã chữ Hán Việt là cây còn. Cây còn con cầy = con chó. Quán mộc tồn là quán bán thịt chó.
– con nhỏ nầy là Bích La, con lớn kia là Bích Lẩy (tức con chó nhỏ thì ba lít, còn con chó lớn thì phải uống đến bảy lít mới say).
– “Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu”(có nghiã là khi gặp “bạn rượu” thì chỉ có Trời mới biểu thôi !)

Sau đây là lời tâm sự của Tam Ánh – một tay ăn nhậu. Anh chàng nầy chẳng những làm thơ nói lái bằng cách chuyển từ một câu Ca dao quen thuộc mà còn chuyển cả một bản nhạc của VC (bài Tiểu đoàn 307) thành lời ca nói lái để vừa ca vừa tạo không khí sôi động trong khi ăn nhậu :

“Ưng đã tài đa qui sông Cảng Long Giưu
Cảng Long Giưu sáo tròng noáy xước…
Ưng đã tài nghiêng té toản điều
Té toản điều Băm Tra Lẩy Bẻ…
Buổi xuất quân toản điều nây ắm
Cả toản điều thười dế sang vào
Người chí siễn tiếc gì mới rau
Buổi xuất quân toản điều nây ắm
Ngọng một luyền thời vế nông son…”.

Thật là mỉa mai, nhục nhã cho Tiểu đoàn 307 lừng danh! Từ “nghe tiếng” trở thành “nghiêng té”, “tiểu đoàn” thành “toản điều” (đọc theo giọng miền Nam là “tản điều” tức là đã rã hàng ngũ rồi) từ “thề dưới sao vàng” nay trở thành “ thười dế sang vào”, từ “nguyền một lòng” đã thành “ngọng một luyền”, “người chiến sĩ” thành “người chí siễn”… vậy mà vẫn được đem ra ca hát ỏm tỏi trong các buổi ăn nhậu, thì thật là hết thuốc chữa !

Cách nói lái sáng tạo như vậy trong khi vui cũng được người nghe chấp nhận vì nó tạo được sự chú ý và liên tưởng bất ngờ. Hoặc đôi khi chưa hài lòng về một điều gì đó, họ cũng có thể nói : thi đua  thua đi, đấu tranh  tránh đâu hay đánh trâu, đầu tư  từ đâu, bàn tính  bình (rồi) tán…hay cứ bùi lan  là bàn tới, bàn lui mãi…

Tuy nhiên, có một vài người câu nệ việc nói lái, tránh đặt tên con bằng những chữ có thể nói lái thành tục tĩu như Thái (dễ ghép với chữ có phụ âm d thành Thái dọt, Thái dúi, Thái dòng…) Lài (dễ ghép với chữ có âm ồn như Lài dồn, Lài cồn,…) Côn, Tôn, Đôn (ghép với chữ có phụ âm L thành Côn lòi, Tôn lò, Đôn lầm) Thu (ghép với chữ có phụ âm đ thành Thu đạm, Thu đội…). Trong khi đó, có người vì bản tánh dị đoan sợ lựa tên đẹp đặt cho con sẽ bị “bề trên” quở phạt nên có những tên : Cu lớn, Cu nhỏ, Cu đỏ, Cu xanh hoặc Cái hĩm, Gái chị, Gái em…có người còn đặt tên con là Thẹp, Bẹn… Nói chung, nếu lựa tên để đặt cho con, nên tránh những chữ thông thường sau đây vì dễ bị ghép chung với một chữ khác trở thành mục tiêu cho bạn bè hoặc người thân chọc phá :

– Bôn (lề), Bốn (lù), Bắc (cọp, cực), Cai (dù), Cồn (lái, lầm), Công (ngũ), Cúc (đặc), Cự (bặc), Dặc (thành Cà ông Dặc), Dồn (lần, lùi), Đệ (vũ, thành cụ Đệ), Đặc (vụ, cụ), Đạo (dụ, ù ù), Đại (du), Đắc (thành mụ Đắc), Đức (cóp, cống), Điện (lu), Tốt (làm), Tôn (lò), Thu (cúc, đạm), Tú (địa, đạp, đáp), Khôn (liền), Lái (diếm), Môn (làng, lề, lù) v.v…

Điều chúng ta biết được là trong dân gian, người ta rất thích thú được nói lái và nghe nói lái. Có khi vì tình cờ vô ý mà tiếng nói ra thành một tiếng nói lái, có khi người ta tìm cách đẽo gọt, tìm tòi để kiếm ra những từ nói lái có ý nghĩ. Tác giả có thể là một mà cũng có thể là nhiều người, dần dà ngôn ngữ nói lái thành ra tài sản chung, đóng góp vào kho tàng Văn chương bình dân Việt Nam vừa đa dạng vừa hiếm quý. Chúng tôi xin trích dẫn một số tiếng nói lái thông thường mà chúng ta hay bắt gặp trong cuộc sống hằng ngày : – trễ giờ thì trở về, – ôm nhiều thành yếu mà yêu nhiều thành ốm, – làm sương cho sáo thì lấy tóc mà may, – đơn giản như đang giỡn, – chà đồ nhôm là chôm đồ nhà, – cây còn là con cầy, – cờ tây là cầy tơ…hoặc vì tế nhị đối với những người có tật bẩm sinh nên không dám nói thẳng mà dùng cách nói lái vòng vo để ám chỉ như : Anh nầy chắc là tuổi Tân Hợi (Tân là mới, Hợi là heo. Tân Hợi là heo mới. Heo mới nói lái là hơi méo vì anh nầy có tật méo miệng) hoặc anh kia thì “hách từ trong nôi” bởi vì anh ta “hôi từ trong nách” tức là bị bệnh hôi nách…

Đặc biệt, chữ Long (theo nghiã Hán Việt là con rồng, dùng để chỉ nhà Vua) được nhiều người ghép thêm một chữ khác rồi đố đáp lẫn nhau trong những khi họp mặt như : Hoàng hậu đưa con cho Vua bồng, gọi là gì ? Vua đang ăn, gọi là gì ? Vua đi lao động, gọi là gì ?… Và từ đó, có các từ nói lái ngộ nghĩnh như sau :

– Long mắt (Vua đang nhảy đầm nên “lắt mông” theo điệu nhạc).
– Long mi (Vua đang uống Bia ôm nên cần “ly mông”).
– Long trỉ (Vua đang uống rượu nên “ly trỏng”)
– Long khi (Vua chuẩn bị nhậu nên cần “ly không” để đựng rượu)
– Long xưởng (Vua chơi bời quá độ nên bị “xương lỏng”).
– Long vẽo (Vua “leo võng” nằm tòng teng nghỉ trưa).
– Long do (Vua bị giựt hụi nên “lo dông”).
– Long vưu (Vua phải “lưu vong” vì đất nước bị người khác chiếm).
– Long đạo (Vua bị bắt đi “lao động” là vinh quang vì chạy trốn không kịp).
– Long gò (Vua đang tập tạ, nếu không “lo gồng” sẽ bị tạ rớt xuống dập chân).
– Long bò (Vua “lo bồng” con để Hoàng hậu đi tắm).
– Long kẻo (Vua đi chơi về khuya phải “leo cổng” vô nhà, sợ làm ồn vợ quýnh).
– Long võ (Vua bị té gãy chân nên phải “lo võng” đi cứu cấp).
– Long giái (Vua lấy vợ ngoại quốc nên bị “lai giống”)

Và còn rất nhiều Long khác nữa nhưng không phải Nói lái nên không đề cập đến, như Long nhai (Vua đang ăn), Long xa (xe Vua đi), Long sàng (giường Vua nằm), Long ngai (chỗ Vua ngồi), Long nhan (mặt Vua), Long bào (áo Vua), Long Biên (Vua ghi số đề), Long Bình (kho đạn của Vua), Long hồ (nơi Vua câu cá), Long An (nơi Vua trồng khóm), Long beng (Vua bị lác ngứa), Long đền (xe Vua đụng xe người khác), Long đong (Vua bị thất nghiệp), Long hổ tửu (rượu Vua uống), Long Hải và Long Beach (bãi biển Vua tắm), Long-distance (điện thoại Vua xài), Long-gine (đồng hồ Vua mang), Long-drug (thuốc Vua uống), Long-View (Vua ngắm cảnh), Long-Island (đảo Vua ở), Long môn tiêu cục (Hãng xe vận tải của Vua), Long đình, Long Xuyên, Long định, Long hưng, Long toàn, Long kiến, Long kiểng, Long sơn, Long Thuận, Long Khánh, Long phú…

Tóm lại, qua những phân tích trên, ai cũng công nhận nói lái quả là một đặc thù của tiếng Việt. Người ta dùng nói lái để châm biếm, để gài người khác trong các câu đố, câu đối, hoặc cố ý ghép chữ để hạ thấp người khác. Chẳng hạn, như chuyện nhà nho nào đó đã dùng sự uyên bác của mình để chửi một quan to mà quan chẳng những đã không biết mà còn hoan hỉ chấp nhận trong giai thoại Đại Điểm Quần Thần. Do đó, chúng ta có thể khẳng định nói lái là một thứ vũ khí của dân gian qua phương thức truyền miệng để chống đối, để bôi bác, nhạo báng,…nhằm hạ phẩm cách của kẻ mạnh và cả bọn thống trị.

Tuy nhiên, khách quan mà nói, nói lái chỉ là thứ vũ khí thô sơ của kẻ yếu và sự chống đối đó chẳng qua chỉ là hình thức tiêu cực. Có lẽ vì hoàn cảnh dân tộc Việt Nam đã đắm chìm quá lâu trong cảnh bị trị, dù của ngoại bang hay của chính người đồng chủng. Nên người dân phải tìm cách tránh né, che đậy để sinh tồn trước sức mạnh của bọn thống trị. Vấn đề đặt ra cho chúng ta cùng suy nghĩ là có nên duy trì mãi những tiêu cực tương tự trong những sinh hoạt thường ngày của chúng ta không? Ai cũng thấy rõ một điều là sức sống của người Việt vô cùng to lớn, mãnh liệt, nhưng đồng thời cũng thể hiện những tiêu cực vô cùng tai hại. Chính vì chỉ muốn sống còn bằng bất cứ giá nào, người Việt đã mất đi những tích cực cần phải có, điều này đã giúp cho kể thống trị tồn tại cho đến ngày nay và là một cách giải thích tại sao dân tộc chúng ta đến nay vẫn còn bị bọn cộng sản vô thần thống trị.

Dù sao, nói lái vẫn là một hình thức vô cùng đặc sắc của ngôn ngữ Việt, với khả năng nhạy bén về tính trào phúng, tính châm chọc… chúng ta tin rằng nói lái sẽ tồn tại với người Việt. Nếu ai đó hằng quan tâm đến nền Văn học sử nước nhà, xin một lần ghé mắt đến nghệ thuật Nói lái, xem nó như một bộ phận của Văn học Dân gian Việt Nam (còn được gọi là Văn chương Bình dân) kẻo uổng phí một trò chơi chữ tuyệt vời mà Trời đã cho và đặc biệt chỉ cho dân tộc Việt, cho ngôn ngữ Việt mà thôi./.

Nguyễn văn Hiệp http://www.niemtinvietnam.net/dacsan/articles_256_N%C3%B3i-l%C3%A1i-trong-Ng%C3%B4n-nga%BB%AF-v%C3%A0-VAe%83n-ha%BB%8Dc-Via%BB%87t-Nam-Pha%BA%A7n-II.html

Advertisements

Leave a comment

Filed under Uncategorized

Comments are closed.