Việt Nam 1945-1995 – Phụ Lục D & E

Tìm hiểu thêm:  – Một tài liệu nghiên cứu tỉ mỉ của nhà nghiên cứu Trần Văn Chánh, viết về sử gia Trần Trọng Kim, dài 35 trang: Tản mạn nhân vật lịch sử Trần Trọng Kim qua những trang hồi ký (TCNCPT). “Cũng như nội các Trần Trọng Kim, Bảo Đại bị mang tiếng là một ông vua bù nhìn, theo nghĩa vô dụng chẳng làm được gì. Nhưng nội các Trần Trọng Kim dưới quyền Bảo Đại trên thực tế đã bắt tay thực hiện thần tốc hàng loạt công việc, mà riêng về mặt tốc độ tiến triển, có thể gọi là vô tiền khoáng hậu trong lịch sử, với một chính quyền chỉ tồn tại thực tế khoảng 4 tháng. Đến như việc nội các dưới quyền ông can thiệp với Nhật để thả cả tù nhân cộng sản, thì tinh thần đoàn kết hòa giải hòa hợp dân tộc đã được thực hiện đúng lời hứa, và đến thế là cùng!

Phụ lục D: Thư của Tổng Thống Lyndon B. Johnson gửi Chủ Tịch Hồ Chí Minh, và Thư trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đây là một trường hợp mà cả Hoa Kỳ và VNDCCH đều bị chê trách là đã bỏ lỡ cơ hội hòa bình. Johnson bị trách là đã làm hỏng kế hoạch hòa bình Wilson-Kosygin chỉ vì ông đã “đổi thì của động từ,” (xem trang 369) nhưng Johnson đã cho thấy lý do là mỗi lần Mỹ ngưng ném bom thì việc chuyển người và vũ khí từ Bắc vào Nam tấp nập “như một ngày Chủ Nhật trên xa lộ New Jersey Turnpike”1. Nếu đọc kỹ thư trả lời của Hồ Chí Minh thì không thấy có dấu hiệu ông phản ứng về chuyện những chuyến thâm nhập này “sẽ ngưng” hay “đã ngưng”. Lời lẽ cứng rắn trong thư không phản ánh con người Hồ Chí Minh vốn có tài ngoại giao, uyển chuyển, biết nắm bắt thời cơ. Năm 1954, sau khi thắng Pháp, ông đã nhắc tổng biên tập báo Nhân Dân là không nên làm Pháp bị mất mặt vì “sau chiến tranh, chúng ta còn cần Pháp giúp đỡ”. Có thể thái độ cứng rắn này là do sự điều động của Lê Duẩn, người đã nắm thực quyền từ khi làm Tổng Bí thư năm 1959. Hồ Chí Minh thường bị đau yếu trong mấy năm cuối đời (ông mất năm 1969).

Ngày 8 tháng Hai 1967

Kinh gửi Chủ tịch Hồ Chí Minh

Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà

Thưa Ngài,

Tôi viết cho Ngài với niềm hi vọng là cuộc chiến Việt Nam có thể chấm đứt. Cuộc chiến này đã gây tổn thất nặng nề — về sinh mạng, về thương tích, về tài sản và tình trạng khốn khổ của con người. Nếu chúng ta không tìm được một giải pháp hòa bình và công chính, lịch sử sẽ nghiêm khắc phán xét chúng ta.

Vì vậy, tôi tin rằng cả hai chúng ta đều có một nghĩa vụ nặng nề là sốt sắng tìm kiếm con đường đưa đến hoà bình. Chính vì cần đáp ứng nghĩa vụ đó mà tôi trực tiếp viết cho Ngài.

Từ mây năm qua, chúng tôi đã cố gắng bằng nhiều cách và qua một số đường liên lạc chuyển đến Ngài và các cộng sự viên của Ngài điều mong muốn của chúng tôi đạt được một giải pháp hòa bình. Vì những lý do nào đó, những nỗ lực đó đã không đem lại kết quả nào.

Có thể là những ý nghĩ của phía chúng tôi và của phía Ngài, thái độ của chúng tôi và của phía Ngài, đã bị bóp méo hay ngộ nhận khi chúng đi ngang những đường liên lạc khác nhau ấy. Quả thật việc thông tin liên lạc gián tiếp luôn luôn nguy hiểm.

Có một cách vượt qua được khó khăn này để tiến tới việc tìm kiếm một giải pháp hòa bình. Đó là việc chúng ta thu xếp những cuộc hội đàm trực tiếp giữa những đại diện được tin cậy trong một khung cảnh yên ổn và xa cách mọi nguồn quảng bá. Những cuộc hội đàm này sẽ không được dùng như một hoạt động tuyên truyền mà phải là một nỗ lực nghiêm túc để tìm kiếm một giải pháp khả thi và có thể được cả hai bên chấp thuận.

Trong hai tuần qua, tôi có ghi nhận những điều công bố bởi các đại diện chính phủ của Ngài, gợi ý rằng phía Ngài sẵn sàng thương thuyết song phương trực tiếp với các đại diện của chính phủ Hoa Kỳ, với điều kiện là chúng tôi ngưng các cuộc oanh tạc “vô điều kiện” và vô thời hạn trên xứ sở của Ngài và cũng ngưng mọi hoạt động quân sự. Vào ngày chót, có những giới đứng đắn và có trách nhiệm đã đoan chắc với chúng tôi một cách gián tiếp rằng đây quả thật là đề nghị của Ngài.

Tôi xin thành thật nói rằng tôi thấy có hai khó khăn lớn trong đề nghị của Ngài. Vì lập trường công khai của Ngài, một hành động như thế từ phía chúng tôi sẽ không tránh khỏi gây nên sự suy đoán khắp nơi trên thế giới rằng các cuộc thảo luận đang diễn ra, và sẽ làm phương hại đến tính cách riêng tư và kín đáo của những cuộc thảo luận ấy. Thứ hai là se không tránh khỏi mỗì quan ngại sâu sắc về phía chúng tôi là liệu chính phủ của Ngài có lợi dụng hành động ấy của chúng tôi để tăng cường vị thế quân sự của phía Ngài hay không.

Mặc dù những khó khăn đó, tôi vẫn chuẩn bị tiến đến việc chấm dứt xung đột, xa hơn cả điều chính phủ Ngài đã đề nghị trong những lời tuyên bố công khai hay qua những đường dây ngoại giao riêng. Tôi chuẩn bị ra lệnh ngưng oanh tạc trên xứ sở của Ngài và ngưng gia tăng các lực lượng quân sự Mỹ ở miền Nam Việt Nam ngay khi tôi được cam kết là sự thâm nhập miền Nam bằng đường bộ hay đường biển đã ngưng. Tôi tin rằng những hành động kiềm chế này của cả hai bên sẽ khiến chúng ta có thể có những cuộc thảo luận riêng tư và nghiêm chỉnh sớm dẫn đến hòa bình.

Tôi đưa đề nghị này cho Ngài bây giờ với một cảm nghĩ khẩn cấp rõ rệt vì những ngày nghỉ Tết sắp tới ở Việt Nam. Nếu Ngài có thể chấp nhận đề nghị này thì tôi không thấy có lý do gì mà nó không có hiệu lực vào cuối những ngày nghỉ Năm Mới hay Tết. Đề nghị của tôi sẽ được thêm nhiều sức mạnh nếu các nhà lãnh đạo quân sự của Ngài và các nhà đối tác bên Chính phủ miền Nam Việt Nam có thể mau chóng thương thảo về một cuộc gia hạn đình chiến ngày Tết.

về địa điểm cho những cuộc thảo luận song phương, tôi đề nghị có nhiều nơi. Chẳng hạn, chúng ta có thể cho các đại diện của chúng ta gặp nhau ở Mat-scơ-va là nơi đã có những cuộc tiếp xúc. Họ có thể gặp nhau ở một nước khác như Miến Điện. Có thể Ngài đã nghĩ đến những cách thu xếp hay địa điểm khác, tôi sẽ cố thoả thuận với đề nghị của Ngài.

Điều quan trọng là chấm dứt một cuộc xung đột đã chồng chất gánh nặng lên hai dân tộc chúng ta, và trên hết là đân chúng miền Nam Việt Nam. Nếu Ngài có những ý kiến gì về những điều mà tôi đề nghị, tôi rất cần nhận được những ý kiến đó sớm chừng nào hay chừng nấy.

Trân trọng kính chào,

Lyndon B. Johnson

Ngày 15 tháng Hai, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời:

Kính gửi Tổng Thống Lyndon B. Johnson

Hợp Chủng Quôc Hoa Kỳ

Thưa Ngài,

Tôi nhận được thư của Ngài ngày 10 tháng Hai 1967. Đây là phúc đáp của tôi:

Việt Nam ở cách xa nước Mỹ hàng chục ngàn dặm. Dân Việt Nam chưa bao giờ làm điều gì hại cho nước Mỹ. Nhưng trái với những lời hứa của đại diện nước Mỹ tại Hội nghị Giơ-ne-vơ năm 1954, Chính phủ Mỹ đã không ngừng can thiệp vào Việt Nam; chính phủ đó đã mở một cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam Việt Nam và gia tăng cường độ nhằm kéo dài sự chia cắt Việt Nam và biến Nam Việt Nam thành một tân thuộc địa và một căn cứ quân sự của nước Mỹ. Đã hơn hai năm nay, Chính phủ Mỹ đã dùng các lực lượng không quân và hải quân để gây chiến với Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, một nước độc lập có chủ quyền.

Chính phủ Mỹ đã phạm tội ác chiến tranh, tội ác chống lại hòa bình và chõng lại loài người. Ở Nam Việt Nam, một nửa triệu binh sĩ Mỹ và chư hầu đã sử dụng những vũ khí vô nhân đạo nhất và những phương pháp chiến tranh dã man nhất, như bom lửa, chất độc hóa học và hơi ngạt, để tàn sát đồng bào chúng tôi, phá hủy mùa màng và san bằng các làng mạc.

Ớ miền Bắc Việt Nam, hàng ngàn máy bay Mỹ đã trút hàng trăm ngàn tấn bom, phá hủy các thành phố, làng mạc, nhà máy, đường xá, cầu cống, đê điều, đập nước, và ngay cả nhà thờ, chùa chiền, nhà thương, trường học. Trong thông điệp của Ngài, Ngài tỏ vẻ buồn phiền về những nỗi đau khổ và tàn phá ở Việt Nam. Tôi xin hỏi Ngài: Ai đã gây ra những tội ác ghê tởm này? Đó là binh sĩ Mỹ và chư hầu. Chính phủ Mỹ hoàn toàn chịu trách nhiệm về tình trạng cực kỳ nghiêm trọng ở Việt Nam.

Chiến tranh xâm lược Mỹ chống nhân dân Việt Nam là một thách thức đối với các nước thuộc khối Xã hội chủ nghĩa, một đe dọa đối với phong trào dân tộc độc lập vã một mối nguy cho hòa bình ở Á châu và thế giới.

Nhân dân Việt Nam yêu chuộng độc lập, tự do và hòa bình. Nhưng trước cuộc xâm lược của Mỹ, họ đã đứng lên, đoàn kết muôn người như một. Không sợ hi sinh và gian khổ, họ quyết tâm kháng chiến cho đến khi giành được độc lập, tự do và hòa bình thật sự. Chính nghĩa của chúng tôi được nhân dân toàn thế giới bày tỏ thiện cảm và ủng hộ mạnh mẽ, kể cả những thành phần rộng lớn của nhân dân Mỹ.

Chính phủ Mỹ đã mở cuộc chiến tranh xâm lược ở Việt Nam. Chính phủ ấy phải chấm dứt xâm lược. Đó là cách duy nhất để khôi phục hoà bình. Chính phủ Mỹ phải ngưng vĩnh viễn và vô điều kiện những cuộc oanh tạc và tất cả mọi hành động gây chiến chống Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, rút hết quân sĩ Mỹ và chư hầu ra khỏi miền Nam Việt Nam, và để cho nhân dân Việt Nam giải quyết lấy các vấn đề của họ. Đó là nội dung căn bản của lập trường bốn điểm của Chính phủ VNDCCH, thể hiện những nguyên tắc- căn bản và những điều khoản dự liệu của Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 về Việt Nam. Đó là cơ sở của một giải pháp chính trị đúng đắn cho vấn đề Việt Nam.

Trong thông điệp của Ngài, Ngài đề nghị những cuộc hội đàm trực tiếp giữa VNDCCH và Hoa Kỳ. Nếu Chính phủ Mỹ thật sự muốn có những cuộc hội đàm này, trước hết chính phủ ấy phải ngưng vô điều kiện các vụ oanh tạc và mọi hành động gây chiến khác chống VNDCCH. Chỉ sau khi có sự chấm dứt vô điều kiện các vụ oanh tạc và các hành động gây chiến khác của Mỹ chống VNDCCH thì VNDCCH và nước Mỹ mới ngồi vào bàn thương thuyết và thảo luận các vấn đề liên quan tới hai bên.

Nhân dân Việt Nam sẽ không bao giờ chịu khuất phục trước sức mạnh, họ sẽ không bao giờ chấp thuận thương thuyết dưới sự đe dọa của bom đạn.

Chính nghĩa của chúng tôi tuyệt đối đúng. Hi vọng rằng Chính phủ Mỹ sẽ hành động theo lý trí.

Hồ Chí Minh

——-

Phụ lục E: Quyền Tự quyết của Nhân dân miền Nam Việt Nam và Vấn đề Thống nhất hai miền Nam, Bắc

(Trích Hiệp định Paris 1973)

Hiệp định Paris, được hai bên bốn phái đoàn ký ngày 27 tháng Giêng 1973 trên ba bản riêng (Hoa Kỳ và VNDCCH ký chung một bản nhưng VNCH và CPCMLT ký hai bản riêng), đã cho thấy điềm gở của thoả hiệp về “hoà giải và hòa hợp dân tộc”. Giả thử hai bên miền Nam Việt Nam đã tiên liệu được tình trạng miền Nam sau khi được miền Bắc “giải phóng” và thật tình thi hành các điều khoản trong Hiệp định về quyền tự quyết của nhân dân miền Nam và điều kiện thống nhất đất nước, thì chiến tranh đã không tàn phá thêm hơn hai năm nữa, và tình hình đất nước có thể đã đổi khác. Chính các nhà lãnh đạo ở Hà Nội, vào thời điểm của Hiệp định Paris 1973, cũng “coi thống nhất là một tiến trình từng bước một, ” và thời gian chuyển tiếp được phỏng định là “từ mười đến hai mươi năm, ” như lời nhà ngoại giao miền Bắc Nguyễn Khắc Huỳnh đã tiết lộ tại Hội nghị Việt-Mỹ năm 1997.1

CHƯƠNG IV

VIỆC SỬ DỤNG QUYỀN TỰ QUYẾT CỦA NHÂN DÂN MIỀN NAM VIỆT NAM

Điều 9

Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà cam kết tôn trọng những nguyên tắc sau đây về việc sử dụng quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam:

a) Quyền tự quyết của nhân dân miền Nam Việt Nam là thiêng liêng, không thể chuyển nhượng, và phải được mọi quốc gia tôn trọng.

b) Nhân dân miền Nam Việt Nam sẽ tự quyết định tương lai chính

1 Xem chương 913 , trang 361..

trị của Nam Việt Nam qua tổng tuyển cử thật sự tự do và dân chủ dưới sự giấm sát của quốc tế.

c) Các nước ngoài không được áp đặt bất cứ một khuynh hướng hay nhân vật chính trị nào lên nhân dân miền Nam Việt Nam.

Điều 10

Hai bên miền Nam Việt Nam cam kết tôn trọng ngưng chiến và duy trì hoà bình ở miền Nam Việt Nam, giải quyết các vấn đề còn tranh cãi qua thương thuyết, và tránh mọi xung đột vũ trang.

Điều 11

Ngay sau khi ngưng chiến, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ:

thực hiện hòa giải và hòa hợp dân tộc, chấm dứt hận thù, cấm đoán mọi hành động trả thù và kỳ thị đối với các cá nhân và đoàn thể đã hợp tác với bên này hay bên kia;

bảo đảm các quyền tự do dân chủ của nhân dân: tự do cá nhân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tổ chức, tự do hoạt động chính trị, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại, tự do cư trú, tự do làm việc, quyền tư hữu, và quyền tự do kinh doanh.

Điều 12

a) Ngay sau khi ngưng chiến, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ tham khảo với nhau trong tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, tôn trọng lẫn nhau, và không loại trừ nhau để thành lập một Hội đồng Quốc gia Hoà giải và Hoà hợp Dân tộc gồm ba thành phần ngang nhau. Hội đồng sẽ hoạt động trên nguyên tắc nhất trí. Sau khi Hội đồng Quốc gia Hòa giải và Hoà hợp Dân tộc đảm nhận nhiệm vụ, hai bên miền Nam Việt Nam sẽ tham khảo việc thành lập những hội đồng ở các cấp thấp hơn. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ ký một thoả hiệp về các vấn đề nội bộ của Nam Việt Nam càng sớm càng tốt và cố gắng hết sức để hoàn tất thoả hiệp này trong vòng chín mươi ngày sau khi cuộc ngưng chiến có hiệu lực, đúng với nguyện vọng của nhân dân miền Nam Việt Nam về hòa bình, độc lập và dân chủ.

b) Hội đồng Quốc gia Hòa giải và Hòa hợp Dân tộc có nhiệm vụ thúc đẩy hai bên miền Nam Việt Nam thi hành Hiệp định này, hoàn thành được hoà giải và hòa hợp dân tộc và bảo đảm các quyền tự do dân chủ. Hội đồng Quốc gia Hòa hợp và Hòa giải Dân tộc sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do và dân chủ được dự liệu trong Điều 9 (b) và ấn định các thủ tục và thể thức của những cuộc tổng tuyển cử này. Những định chế do các cuộc tổng tuyển cử này thành lập sẽ được thỏa thuận qua những cuộc tham khảo giữa hai bên miền Nam Việt Nam. Hội đồng Quốc gia Hoà giải và Hoà hợp Dân tộc cũng sẽ ấn định các thủ tục và thể thức của những cuộc bầu cử ở địa phương mà hai bên miền Nam Việt Nam đã đồng ý.

Điều 13

Vấn đề quân lực ở miền Nam Việt Nam sẽ được giải quyết bởi hai bên miền Nam Việt Nam trong tinh thần hoà giải và hoà hợp dân tộc, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau, không có sự can thiệp của nước ngoài, phù hợp với tình trạng hậu chiến. Trong số những vấn đề được thảo luận bởi hai bên miền Nam Việt Nam là những bước cắt giảm quân số và giải ngũ số binh sĩ được cắt giảm. Hai bên miền Nam Việt Nam sẽ hoàn tất việc này càng sớm càng tốt.

Điều 14

Miền Nam Việt Nam sẽ theo đuổi một chính sách ngoại giao hòa bình và độc lập. Miền đất này sẽ được chuẩn bị để thiết lập quan hệ với tất cả các nước bất kể hệ thống chính trị và xã hội của các nước đó trên căn bản tôn trọng lẫn nhau về độc lập và chủ quyền và nhận viện trợ kinh tế và kỹ thuật từ bất cứ nước nào không có điều kiện chính trị đi kèm. Vấn đề miền Nam Việt Nam nhận viện trợ quân sự trong tương lai sẽ thuộc thẩm quyền của chính phủ được thành lập sau những cuộc tổng tuyển cử ở miền Nam Việt Nam được dự liệu bởi Điều 9 (b).

CHƯƠNG V

THỐNG NHẤT VIỆT NAM VÀ QUAN HỆ GIỮA BẮC VÀ NAM VIỆT NAM

Điều 15

Vấn đề thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện từng bước bằng đường lối hòa bình trên căn bản thảo luận và thỏa hiệp giữa hai miền Bắc và Nam Việt Nam, không có sự ép buộc hay sát nhập bởi bên nào, và không có sự can thiệp của nước ngoài. Thời gian thống nhất sẽ được thỏa thuận bởi Bắc và Nam Việt Nam.

Trong khi chờ đợi thông nhất:

a) Lằn ranh quân sự giữa hai miền ở vĩ tuyến 17 chỉ là tạm thời và không phải là một biên giới chính trị hay lãnh thổ, như được qui định trong đoạn 6 của Bản Tuyên ngôn Cuối cùng của Hội nghị Giơ-ne-vơ 1954

b) Bắc và Nam Việt Nam sẽ tôn trọng Vùng Phi Quân sự ở hai bên của Lằn Ranh Quân sự Tạm thời.

c) Bắc và Nam Việt Nam sẽ mau chóng khởi sự thương thuyết để tái lập quan hệ bình thường trên những lãnh vực khác nhau, trong số những vấn đề được thương thuyết là những thể thức về sự đi lại của dân chúng qua Lằn Ranh Quân sự Tạm thời.

d) Bắc và Nam Việt Nam sẽ không gia nhập bất cứ liên minh quân sự hay khối quân sự nào và sẽ không cho phép thế lực ngoại quốc nào duy trì căn cứ quân sự, quân sĩ, cố vấn quân sự, và nhân viên quân sự trên lãnh thổ của mỗi bên, như đã qui định trong Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954 về Việt Nam.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Ngoài những sách, báo đã lưu hành trên thị trường và một số nhân chứng có quan hệ tới các sự kiện lịch sử trong giai đoạn 1945-1975, ba nguồn tài liệu chính được tác giả tham khảo là:

1. Thư Viện Quốc Hội Mỹ, đặc biệt là sách báo Việt Nam tại Asian Reading Room và hai bộ Foreign Relations of the United States, 1950- 1968(U.S. Department of State: GPO, 1976-1998) và The Pentagon Pa­pers (Gravel edition, Boston: Beacon Press, 1971) tại Main Reading Room.

2. Woodrow Wilson Center, đặc biệt là Working Paper No. 22: 77 Conversations Between Chinese and Foreign Leaders on the Wars in Indochina, Cold War International History Project (Virtual Archive).

3. Centre des Archives d’Outre-Mer (CAOM), đặc biệt là hồ sơ của Cao Ủy Pháp tại Sài-gòn, đã hoặc chưa được giải mật, lưu trữ dưới ký hiệu HCI (Haut Commissariat de France en Indochine).

Những sách hay bài viết của các tác giả liệt kê dưới đây đều là những tài liệu có liên quan đến các đề mục trong sách nhưng không nhất thiết là những tài liệu được trích dẫn:

Amiral Decoux. A la Barre de l’Indochine (Paris: Pion, 1949).

Anderson, Jack. “The Washington Merry-Go-Round” column, The Washington Post, July 21, 1967.

Bảo Đại. Le Dragon d’Annam (Paris: Pion, 1980).

Boudarel, Georges. Cent Fleurs Eclores dans la Nuit du Vietnam. (Paris: Éditions Jacques Bertoin, 1991).

Boudarel, Georges et Francois Caviglioli. “Comment Giap a failli perdre la bataille de Dien Bien Phu”, Le Nouvel Observateur (Paris, 8 Avril 1983).

Bùi Diễm. Gọng Kìm Lịch Sử (Paris: Cơ sở Xuất bản Phạm Quang Khai, 2000).

Bùi Tín. Mây Mù Thế Kỷ (California: Đa Nguyên, 1998).

– “Về Nhân Vật Hồ Chí Minh”, tài liệu phổ biến trên internet, 30.12.2003.

Bunker, Ellsworth. Oral History-Interview, Lịu Library.

Burchett, Wilfred G. Vietnam: inside Story of the Guerilla War (New York International Publishers, 1958).

Buttinger, Joseph. The Smaller Dragon: A Political History of Vietnam (New York: Frederick A. Praeger, 1958).

Cao Văn Lượng (chủ biên). Lịch sử Việt Nam 1954-1965.

Caputo, Philip. A Rumor of War (New York: Holt, Rinehart and Winston, 1978).

Césari, Laurent. L’Indochine en Guerres 1945-1993 (Paris: Éditions Bélin, 1995).

Chaffard, Georges. “Le gouvernement nord vietnamien doit affronter à son tour le mécontentement populaire”, Le Monde (Paris, 5.12.1956).

Chanda, Nayan. Brother Enemy (New York: Harcourt Brace Jovanovich Publishers, 1986).

Oscar Chapuis. A History of Vietnam: from Hong Bang tứ Tu Duc (Westport, CT:

Greenwood Press, 1995).

Chính Đạo. Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 (Houston: Văn Hoá, 1996, tập A, B, C)

Cole, Allan B., ed. Conflict in Indochina and International Repercussions: A Documentary History, 1945-1955 (Ithaca: Cornell University Press, 1956).

Cooper, Chester L. The Lost Crusade: America in Vietnam (New York: Dodd, Mead, 1970)

Richard Critchfield. The Long Charade: Political Subversion in the Viet­nam War (New York: Harcourt, Brace and World, 1968).

De Folin, Jacques. Indochine 1940-1’945: La Fin d’Un Rêve (Paris: Perrin, 1993).

-“Les belligérants à la table des négociations”, trong La Guerre d’Indochine 1945-1954. (Paris: Les Dossiers Historia, Éditions Tallandier, 1990).

De Gaulle, Chartes. Allocution prononcée à l’occasion de l’ouverture de la Conférence Brazzaville, 30 Janvier 1944.

Devillers, Philippe. Histoire du Vietnam de 1940 à 1952 (Paris; Editions du Seuil, 1952).

Paris-Saigon-Hanoi: Les Archives de la Guerre, 1944-1947 (Paris: Gallimard/Julliard, 1988)

Doãn Quốc Sỹ, Khu Rừng Lau.

Dooley, Thomas A. Deliver Us from Evil: the Story of Vietnam’s Flight to Freedom (New York: Farrar, Straus and Cudahy, 1956)

Duiker, William J. Ho Chi Minh (New York: Hyperion, 2000).

Sacred War: Nationalism and Revolution in a Divided Vietnam (New York: McGraw Hill, 1995).

Elliot, David W.P., ed. The Third Indochina Conflict (Boulder, CO: Westview Press, 1981).

Falk, Richard, ed., The Vietnam War and International Law: A Sympo­sium Sponsored by the American Society of International Law (New Jersey: Princeton University Press, 1969).

Fall, Bernard. The Two Vietnams: A political and military analysis (New York, London: Frederick A. Praeger, 2nd edition, 1968).

The Vietminh Regime, Government and Administration in the Democratic Republic of Vietnam (Westport, Connecticut; Greenwood Press, 1975).

Fitzgerald, Françis. Fire in the Lake (Boston: Little, Brown and Com­pany, 1972).

Gaiduk, Ilya. The Soviet Union and the Vietnam War (Chicago: Ivan R. Dee, 1996).

Hammer, Ellen J. A Death in November (New York: E.p. Dutton, 1987).

The Struggle for Indochina 1940-1954 (California: Stanford Uni­versity Press, 1954).

Hampton, Jane. ed. Internally Displaced People: A Global Survey (Lon­don: Earthscan Publications Ltd., 1998).

Harrison, James Pinckney. The Endless War: Fifty Years of Struggle in Vietnam (New York: Free Press, 1982).

Hess, Gary R. The United States’ Emergence as a Southeast Asia Power (New York: Columbia University Press, 1987).

Hilsman, Roger. “The situation and short-term prospects in South Vietnam”, Memorandum to Secretary’ of State Dean Rusk, December

3, 1962.

Hoàng Văn Chí. Trăm Hoa Đua Nở Trên Đất Bắc (Sài-gòn; Mặt trận Bảo vệ Tự do Văn hóa, 1959).

Hoàng Văn Đào. Việt Nam Quốc Dân Đảng: Lịch sử tranh đấu cận đại, 1927-1954 (Saigon: VNQDĐ tái bản kỳ II).

Hoàng Văn Hoan. Giọt Nước Trong Biển Cả (Portland, OR: NXB Tìm hiểu Lịch Sử, 1991).

Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh Toàn Tập (Hà Nội, NXB Chính trị Quốc gia, 1995).

Hunt, Michael H. The Genesis of Chinese Communist Foreign Policy (New York: Columbia University Press, 1996).

Hữu Ngọc và Nguyễn Đức Hiền (sưu tầm). La Sơn Yên Đỗ Hoàng Xuân Hãn (Hà Nội: Nhà Xuất bản Giáo dục, 1998).

Johnson, Lyndon B. The Vantage Point: Perspectives of the Presidency, 1963-1969 (New York: Holt, Rinehart and Winston, 1971).

Karnow, Stanley. Vietnam: A History (New York: Viking, 1991).

Keating, Susan K. “The Draft”, The Washington Times, 30 September 1992).

Kissinger, Henry. Ending the Vietnam War (New York: Simon & Schuster, 2003).

Years of Renewal (New York; Simon & Schuster, 1999).

Lacouture, Jean. Ho Chi Minh (New York: Penguin Books, 1969).

Pierre Mendès France (Paris: Editions du Seuil, 1981).

– et Philippe Devillers, La Fin d’Une Guerre (Paris: Editions du

Seuil, 1960).

Lâm Quang Thi. Autopsy: The Death of South Vietnam (Phoenix, AZ: Sphinx Publishing, 1986).

Langguth, A.G. Our Vietnam (New York: Simon & Schuster, 2000).

Lansdale, Edward G. In the Midst of Wars (New York: Harper & Row, 1972).

Lê Giản. Những Ngày Sóng Gió (Hà Nội: NXB Công An Nhân Dân, tái bản năm 2000).

Lê Mậu Hãn (chủ biên). Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập III, 1945-2000 (Hà Nội: NXB Giáo dục, 2001).

Lénine, V.I. La Révolution Prolétarienne et le Renégat Kautsky (Paris, Éditions sociales, 1953).

Lewey, Guenther. America in Vietnam (Oxford, England, 1978).

Louis, William R. Imperialism at Bay 1941-1945: The U.S. and the Decolonisation of the British Empire (Oxford University Press, 1977).

Lữ Giang. Những Bí ẩn Lịch sử Đàng sau Cuộc chiến Việt Nam (Cali fornia, 1998).

Mann, Robert. A Grand Delusion: America’s Descent into Vietnam (New York: Basic Books, 2001).

Marr, David. Vietnam 1945: The Quest for Power (Berkeley and Los An­geles: University of California Press, 1995).

Marty, L. Le “Việt Nam Quốc-Dân-Đảng” ou “Parti National Annamite” au Tonkin, 1927-1932 (Hanoi: Gouvernement de l’Indochine.) Docu­ments Vol. II, 1933.

McCortnich, Thomas J. America’s Half Century: United States Foreign Policy in the Cold War and After (Baltimore: Johns Hopkins Univer­sity Press, 1995).

McNamara, Robert s. Argument Without End (New York: Public Affairs, 1999).

In Retrospect: The Tragedy and Lessons of War (New York: Vin­tage Books, 1995).

Nguyễn Thế Anh. “The Formulation of the National Discourse in 1940- 45, Vietnam”, Journal of International and Area Studies, Vol. 9, No. 1, June 2002.

Nguyễn Phú Đức. Pourquoi les Etats-Unis ont-ils perdu la guerre? (Paris: Godefroy de Bouillon, 1996).

The Vietnam War, Vol. I (unpublished)

Nguyen Cao Ky with Marvin J. Wolf. Buddha’s Child: My Fight to Save Vietnam (New York; St. Martin’s Press, 2002).

Nguyễn Khắc Ngữ. Những Ngày Cuối Cùng của Việt Nam Cộng Hoà (Montréal: Tủ sách Nghiên cứu Sử-Địa, 1979).

Nguyễn Minh cần. “Xin đừng quên nửa thế kỷ trước: Vấy máu Cải cách Ruộng đất”, phổ biến trên internet, tháng Giêng 2003.

Nguyễn Văn Trấn, Viết cho Mẹ và Quốc hội (California: Văn Nghệ, 1995).

Ninh, Kim N.B. A World Transformed: The Politics of Culture in Révolu~ tionary Vietnam,1945-1965 (The University of Michigan Press, 2002).

Nixon, Richard M. No More Vietnams (New York: Arbor House, 1985).

RN: The Memoirs of Richard Nixon (New York: Grosset and

Dunlap, 1978).

Nye Jr., Joseph s. Bound to Lead: The Changing Nature of American Power (New York: Basic Books, 1990)

O’Connor, Rev. Patrick. “Violations of Article 14 of the Geneva Agree ment”, Terror in Vietnam: A Record of Another Broken Pledge (Wash­ington, D.C: National Catholic Welfare Conference, 1955).

Paterson, Thomas G. and Dennis Merrill, ed. Major Problems in Ameri­can Foreign Policy, vol. II: since 1914, 4th edition (Lexington, MA: D.c. Health and Company, 1995).

Patti, Archimedes L. Why Vietnam? (University of California Press, 1980). Phạm Huấn. Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975 (San Jose, CA: Phạm Huấn, 1987).

Phan Lạc Phúc. Bè bạn gần Xa (California: Văn Nghệ Xuất Bản, 2000). Phủ Tổng Ủy Di Cư Tị Nạn. Cuộc Di cư Lịch sử tại Việt Nam (Sài-gòn, 1957).

Pike, Douglas, ed. The Bunker Papers (Berkeley: University of Califor­nia, 1990).

Porter, Gareth. A History of Documents (New York: New American Li­brary, 1981.

– “Vietnamese Policy and the Indochina Crisis”, The Third Indochina Conflict, Pratt, John c. Vietnam Voices: Perspectives on the War Years, 1941-1975 (Georgia: The University of Georgia Press, 1999).

Sainteny, Jean. Histoire d’une Paix Manquée: Indochine 1945-1947 (Paris: Fayard, 1967).

“Ho Chi Minh and His Vietnam: A Personal Memoir, translated by Herma Briffault (Chicago: Cowles, 1972)

Schoenbrun, David, Av France Goes (New York, 1957).

Schulzinger, Robert D. A Time for War: The United States and Vietnam, 1941-1975 (New York: Oxford University Press, 1997).

Sorley, Lewis. A Better War (San Diego: A Harvest Book, Harcourt Inc., 1999).

Summers Jr., Haưy. “Lingering Fiction About Vietnam”, The Washington Times, 5 February, 1993.

Sutter, Valerie O’Connor. The Indochinese Refugee Dilemma (Baton Rouge and London: Louisiana State University Press, 1990).

Taussig, H.c. “Land Reform Abuses”, South China Morning Post (Hong Kong, 28.11.1956).

Taylor, Maxwell. Swords and Plowbares (New York; Norton, 1972). Thành Tín. Mặt Thật (California, Saigon Press, 1993).

Tôn Thất Đính. 20 Năm Binh Nghiệp (San Jose, CA: Tuân Báo Chẫnh Đạo xuất bản, 1998).

Trần Văn Đôn. Our Endless War Inside Vietnam (San Rafael, CA: The Presidio Press, 1978).

Trần Trọng Kim. Một Cơn Gió Bụi (Sài-gòn: Vĩnh Sơn, 1969).

Nho Giáo (California: Cơ sở Đại Nam tái bản, Tập I, không đề năm).

Trần Thục Nga (chủ biên). Lịch sử Việt Nam (Hà Nội: NXB Giáo Dục, 1991).

Trần Ph\ương. “The Land Reform”, Vietnamese studies: Pages of History 1945-1954 (Hanoi: 1966).

Trần Quang Vinh. Hồi Ký Trần Quang Vinh và Lịch sử Quân đội Cao Đài (Washington, D.Cư Thánh Thất vùng Hoa Thịnh Đôn tái bản, 1997).

Trịnh Đình Khải. Décolonisation du Vietnam: Un Avocat Témoigne (Paris: L’Harmattan, 1994).

Trương NhưTảng. A Viet Cong Memoir (New York: Vintage Books, 1986).

Tucker, Spencer c., ed. The Encyclopedia of the Vietnam War (New York: Oxford University Press, 2000).

Vũ Thư Hiên. Đêm Giữa Ban Ngày (California: Văn Nghệ, 1977).

Võ Nguyên Giáp. Đường tới Điện Biên Phủ (Hà Nội: NXB Quân Đội Nhân Dân, 1999).

Điện Biên Phủ: Điểm hẹn Lịch sử (Hà Nội: NXB Quân Đội Nhân Dân, 2000).

Zhai, Qiang. China and the Vietnam Wars, 1950-1975 (Chapel Hill: The North Carolina University Press, 2000).

Advertisements

Leave a comment

Filed under Trần Trọng Kim

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s