Chủ nghiã của ba ông, hai anh

Lời dẫn: Tư liệu hiếm dưới đây có lẽ chưa bao giờ được công bố. Đó là một bài nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Đại hội Đảng Toàn quốc lần thứ hai tại Việt Bắc vào tháng 3 năm 1951, do một phóng viên của tờ Học tập liên khu 4 ghi lại nguyên văn.[1] Tại Đại hội này, Đảng Lao động Việt Nam ra công khai sau 6 năm nấp dưới tên gọi “Hội Nghiên cứu Chủ nghĩa Mác”.

Bài diễn văn thú vị này cho ta thấy Chủ tịch là một nhà cách mạng, một chính trị gia, và một nhà tuyên truyền lão luyện. Một nhà cách mạng có niềm tin ngây thơ nhưng sâu sắc rằng lý thuyết cách mạng của các “ông thầy” của mình có quyền lực vạn năng. Một chính trị gia qua thủ đoạn tâng bốc các “ông anh” (trong khán giả chắc chắn có sứ thần của các “ông anh” gửi đến. “Ông anh” Stalin lờ tịt các bức điện khẩn xin giúp đỡ của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1945. Mãi đến tháng 1 năm 1950 Chủ tịch phải lặn lội giữa mùa đông băng giá bí mật đến Mạc Tư Khoa và qua sự bảo lãnh của “ông anh” Mao Trạch Đông và có lẽ cả “ông anh” Thorez, thì “ông anh” Stalin mới tiếp đón và công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.[2] Nhưng ở Đại hội, Chủ tịch vẫn phải khen nức nở chứ không có một lời oán hận).

Và cuối cùng, Chủ tịch cho thấy mình là một nhà tuyên truyền lão luyện qua kỹ thuật động viên quần chúng song vẫn khéo léo biến tất cả công lao xương máu của quần chúng thành công lao của chủ thuyết của mình, và qua đó, công lao của mình và đảng mình (vì mình và đảng mình nhập khẩu chủ thuyết ấy từ Âu châu). Phản ứng của quần chúng ở cuối bài nói (hô to “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm!”) cho thấy kỹ thuật dẫn dắt người nghe của Chủ tịch đã thành công.

Vũ Tường, Đại học Oregon

(Xem thêm bài viết “Ngày 19 tháng 5?” của Sử gia Trần Gia Phụng – Liệu Marx vẫn còn thích hợp?) …


“Mác-Lênin thế giới người hiền” (Thơ Tố Hữu) – Nguồn: larousse.fr/

Tài liệu do tác giả Vũ Tường ở Đại học Oregon (Hoa Kỳ) giới thiệu trên Talawas.

Hồ Chí Minh tại Đại hội Đảng 1951
– “Đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa”


Hồ Chủ Tịch tại ĐH II-1951-Nguồn:dthu.edu.vn/

Gocomay (BT & GT): – Nhưng theo quan niệm của tôi, người làm báo hiện đại không nên áp đặt bất cứ chủ kiến nào của mình (định hướng) lên độc giả. Cứ để độc giả thông minh tự suy ngẫm trên những tư liệu nguyên bản. Thiết nghĩ sẽ khách quan hơn. Như người đời vẫn nói “cái kim bọc giẻ lâu ngày sẽ lòi ra”. Do đó cứ mặc nó “lòi ra” một cách tự nhiên thì vẫn hơn là thúc ép nó một cách khiên cưỡng. Trăng đến rằm thì mới tròn, bắt trăng tròn sớm hơn, dù một ngày cũng chẳng thể được. Con người ở thế kỷ 21 suy nghĩ chắc chắn không còn ngô nghê như giữa TK 20 nữa. Cụ Hồ – “Cha già dân tộc một thời” dù có lỗi lạc tới đâu cũng không ngờ rằng cái chủ nghiã mà cụ tôn thờ đã tới hồi cáo chung. Đã không đem lại tự do đích thực cho dân tộc mình như mong muốn rất thành tâm lúc sinh thời của cụ “nước được độc lập mà dân không có tự do, thì nền độc lập ấy phỏng có ý nghiã gì?”


HỌC TẬP — Nội san Đảng Bộ Liên Khu Bốn (Chỉ lưu hành Trong Nội Bộ)
Số 35, Năm thứ tư, Tháng 4 – 1951, trang 1-8

LỜI HỒ CHỦ-TỊCH TRONG ĐẠI HỘI TOÀN ĐẢNG

(Sau khi đồng chí Võ-nguyên-Giáp báo cáo xong vấn đề quân sự, Hồ-Chủ-tịch lên diễn đàn, giữa những tràng pháo tay). Hồ-Chủ-tịch nói.

Các đồng chí,

Vừa nghe báo cáo của đồng chí Giáp, các đồng chí thấy – và trước khi nghe cũng đã thấy – Quân đội ta từ chỗ yếu tiến đến chỗ mạnh, từ chỗ nhỏ tiến đến chỗ to, từ không thắng tiến đến thắng, từ thắng ít đến thắng nhiều, rồi từ thắng nhiều tiến đến thắng lợi hoàn toàn (Đại hội vỗ tay).

Đó là vì đâu? Là vì trong chính trị, cũng như trong mọi mặt công tác khác, Đảng ta có một chủ nghĩa cách mạng nhất, sáng suốt nhất, đó là chủ nghĩa của ba ông kia kìa:

(Hồ-Chủ-tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung 3 vị lãnh tụ: Marx, Engels, Lénine) – (Đại hội vỗ tay vang dậy)

Đó là nhờ chúng ta, toàn giai cấp lao động thế giới, toàn quân đội nhân dân thế giới có một ông Tổng tổng tư lệnh là ông kia kìa.

(Hồ-Chủ-Tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí: STALINE)
(Đại hội vỗ tay dậy vang và cùng đứng dậy hô lớn)
(Đồng chí Staline muôn năm!)

Chắc ít người biết mà có lẽ cũng không ai ngờ. Ông ở cách xa đây mấy muôn dặm, mà ông theo rõi cuộc kháng chiến của ta, của Triều-tiên, của Mã-lai và cuộc đấu tranh của các nước Đông-nam Á. Ông cảm động khi nghe kể lại những cử chỉ chiến đấu anh dũng của một chiến sĩ Thổ khi giết giặc lập công như thế nào. Vì vậy có thể nói tuy ông ở xa nhưng tinh thần của ông và hiểu biết của ông ở với chúng ta. (Đại hội vỗ tay dài)

Chúng ta lại nhờ có ông anh này:
(Hồ-Chủ-Tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí: MAO-TRẠCH-ĐÔNG) –
(Đại hội vỗ tay vang dậy – và đứng dậy hô lớn Đồng chí Mao-Trạch-Đông muôn năm!)

Ông Mao ở cách đây mấy nghìn dặm. Còn ông Staline thì xa những muôn dặm… Ông theo rõi từng bước cuộc chiến đấu cách mạng của chúng ta. Như lúc quân đội và nhân dân ta giải phóng biên giới, như lúc chúng ta mở chiến dịch Trung-du có thể đêm ông không ngủ mà chờ tin tức…

(Đại hội có tiếng tấm tắc)

… Có ông thầy, ông anh như thế nên quân đội ta, quân đội Việt-Mên-Lào, từ chỗ nhỏ đến chỗ lớn, từ chỗ yếu đến chỗ mạnh, từ không thắng đến thắng hoàn toàn.

Cũng vì chủ nghĩa quốc tế, cũng chủ nghĩa Marx – Engels – Lenine – Staline, mà đến ông anh kia
(Hồ-Chủ-tịch vươn tay chỉ và hướng mặt về phía chân dung đồng chí Thorez và nói tiếp… là ông THOREZ …) (Đại hội vỗ tay vang dậy – và đứng dậy hô lớn: Đồng chí Thorez muôn năm! Muôn năm!)

2Maurice Thorez – Nguồn: wikimedia.org/

… Ông lãnh đạo đảng Pháp, đảng đàn anh … vì do được đảng Pháp lãnh đạo, nhân dân lao động ở Pháp kiên quyết bảo vệ hòa bình thế giới, tranh đấu chống chiến tranh thuộc địa, ủng hộ cuộc kháng chiến của chúng ta, chống lại chiến tranh thực dân. Như hôm nọ, tôi đã nói về đồng chí Henri M…,[3] một sĩ quan trong hải quân của thực dân, mà đi phát truyền đơn ủng hộ cuộc kháng chiến của Việt nam, khuyên thanh niên Pháp và bộ đội Pháp từ chối, phản đối không qua đánh Việt nam. Lại có những công nhân như Raymone Dieu, khi thực dân Pháp chở khí giới từ một ga xe lửa đến bến tàu để rồi đưa qua Việt nam. Cô Raymone nằm ngang ra giữa đường sắt để ngăn chuyến xe ấy. Và do cử chỉ cao xa này mà toàn dân xứ ấy kéo ra chặn cả đoàn xe lại.

(Đại hội vỗ tay hoan hô nhiệt liệt và hô lớn: Hoan hô tinh thần của Henri M… và Raymone Dieu!)

Đó là nhờ nhân dân lao động Pháp đã thấm nhuần tinh thần Marx – Engels –Lénine – Staline. Chẳng những nhân dân lao động Pháp có rất đông những người như thế, mà vừa rồi đây lại có tin hàng trăm người lãnh đạo công giáo – khai hội nghị chống chiến tranh thực dân ở Việt nam và ủng hộ cuộc kháng chiến của dân tộc Việt nam.

(Đại hội vỗ tay vang dậy – và đứng dậy hô lớn: Đảng cộng sản Pháp muôn năm! Muôn năm!)

Có thể nói cái tinh thần, cái chủ nghĩa của đồng chí Staline đã thấm nhuần vào dân công giáo và đấu tranh giành một phần nào “lời nói” của ông Pope.
(Đại hội vỗ tay, ngồi)

Vừa đây có một giám mục đứng ra kêu gọi con chiên đấu tranh cho hòa bình. Thì ra, tinh thần của đồng chí Staline đã đi vào địa bàn của giáo hoàng.

Đây là ở phương tây. Còn ở phương Đông thì như thế nào? Do chỗ đảng Trung Quốc đã thấm nhuần chủ nghĩa Marx – Lénine nên đã áp dụng chủ nghĩa Marx – Lénine thích hợp với hoàn cảnh Trung Quốc. Do chỗ đảng ta đã thấm nhuần chủ nghĩa Marx – Lénine, thấm nhuần tinh thần ấy lực lượng ấy, mà làm thấm nhuần đến cả quân đội ta, thấm nhuần đến nhân dân ta.

Nếu không thấm nhuần như thế, thì sao lại có bộ đội nhịn đói hơn 4 ngày, vẫn cứ bám lấy giặc mà đánh và đánh thắng giặc!

(Đại hội vỗ tay dài)

Thì sao có những cử chỉ oanh liệt như ở một trận đánh nọ có chiến sĩ bị thương ở tay nói với người bên cạnh “Cậu chặt tay cho mình cái” vì thấy cánh tay gãy vướng, chặt đi cho dễ đánh, thế rồi lại cứ xung phong? Nếu không thấm nhuần chủ nghĩa Marx – Lénine thì làm sao có được những cử chỉ oanh liệt như thế?

(Đại hội vỗ tay)

Nếu không có chủ nghĩa Marx – Lénine kinh qua đảng ta thấm nhuần đến nhân dân, thì sao có những chị em phụ nữ Mán, Thổ, Mèo ban ngày thì mưa ướt, đường trơn vẫn hăng hái đi tải đồ cho bộ đội, tối đến đường trơn, ở giữa rừng không có chỗ ngủ, phải dựa lưng vào nhau mà ngồi qua đêm, để sáng sớm lại vui vẻ đi vận tải đồ cho bộ đội?

Nếu không có tinh thần Marx – Lénine thấm nhuần qua Đảng ta đến dân ta, thì sao có những cử chỉ cảm động như thế? Đó là những vô danh anh hùng. Dân tộc ta là dân tộc anh hùng.

(Đại hội vỗ tay vang dậy)

Chẳng những đồng bào ở ngoài, mà ngay đồng bào trong vùng tạm bị chiếm cũng hết sức ủng hộ ta. Tôi vừa nhận được bức thư của một bà ở ngoại thành, một bà hơn năm mươi tuổi, đây tôi đọc để dẫn chứng – (Còn nhiều bức thư khác nữa, nhưng bức thư này vừa tiếp được, tiện đây đưa ra đọc) – Bà có một đứa con chín tuổi, bà nói sự độc ác của bọn giặc Pháp, sự cực khổ của đồng bào trong vùng tạm bị chiếm. Bà viết: “Tôi già sống trong hoàn cảnh rất cực khổ, thế nhưng mà tôi luôn luôn mong mỏi, tin tưởng bộ đội ta sẽ tổng phản công để đuổi lũ giặc Tây hung ác, đưa dân chúng đến cảnh tượng hòa bình.”

Có một cháu bé 16 tuổi cũng viết thư như thế, kể nỗi khổ cực: “Cháu luôn luôn nhớ Bác, luôn luôn nhớ chính phủ. Dầu cực khổ mấy, lúc nào cháu cũng cố gắng học tập, nghe theo như lời Bác dạy, một lòng trung thành với chính phủ. Cháu cố gắng học tập, để xứng đáng là một đứa cháu của Bác và sau này trở thành người dân xứng đáng của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.”

(Đại hội vỗ tay dài)

Thế là do chủ nghĩa Marx – Lénine đã thấm nhuần qua đảng ta, qua dân ta, nên chúng ta nhất định sẽ thắng lợi.

(Đại hội vỗ tay rất lâu)

Bây giờ tôi qua điểm khác. Nói đến quân đội ta, quân đội anh dũng Việt-Mên-Lào, chúng ta phải nhớ đến đoạn đầu, những người đầu. Trước hết nhớ đến những chiến sĩ Nam bộ lấy gậy tầm vông đập vào đầu thực dân Pháp.

(Đại hội vỗ tay lớn)

Đây tôi cũng sung sướng giới thiệu với các đồng chí một du kích viên đầu tiên, khi mới tổ chức đội du kích đầu tiên, chỉ có 12 người: 10 nam 2 nữ. Trong những đồng chí ấy thì đây có Lê quảng Ba
(Hồ Chủ tịch nhìn quanh đại hội, và hỏi Lê quảng Ba đâu? Đứng lên nào) – (Đồng chí Lê quảng Ba đứng dậy. Cả đại hội hướng về phía đồng chí ấy, vỗ tay hoan hô vang dậy)

Và tôi giới thiệu một tư lệnh viên đầu tiên trong thời kỳ du kích Bắc sơn – Chắc các cô, các chú cũng đã biết cả – là chú này … (Hồ Chủ tịch ngoảnh về phía chủ tịch đoàn và chỉ đồng chí Chu văn Tấn hiện đang làm chủ tịch buổi họp) – chú Chu văn Tấn! (Đồng chí Tấn đứng dậy. Đại hội vỗ tay hoan hô vang dậy).

Từ 12 người ấy mà tiến lên, rồi dần dần thành đội tuyên truyền xung phong, rồi đổi ra là Nam tiến, đổi là Giải phóng quân, đổi ra là Vệ quốc đoàn. Người tổng chỉ huy đầu tiên đội Nam tiến là
(Hồ Chủ tịch chỉ đồng chí Võ nguyên Giáp ngồi ở hàng ghế đầu và nói mạnh rằng: Võ nguyên Giáp đây này!)(Đồng chí Giáp đứng dậy. Đại hội vỗ tay hoan hô vang dậy.) Còn những chiến sĩ gậy tầm vông nam bộ ở đây có nhiều!


Hồ Chí Minh & Võ Nguyên Giáp – Nguồn: //vnmedia.vn/

Từ chú du kích viên, rồi đến chú tư lệnh, rồi đến chú Tổng chỉ huy đầu tiên, đều là con của Đảng cả.

(Đại hội vỗ tay rất mạnh, rất dài.)

Hồi bấy giờ từ 12 đội viên du kích đầu tiên mà bây giờ ta có – có thể nói, Một triệu hai, tính cả dân quân, bộ đội địa phương, bộ đội chính quy. Từ 12 “vawis” (?)[4] (Đại hội cười) bây giờ sinh nở ra một triệu hai trăm ngàn vắt … (Hồ chủ tịch vừa nói vừa gõ tay lên bàn).

(Đại hội vỗ tay vang dậy.) (Giữa những tràng vỗ tay tiếng nói của Hồ Chủ tịch nổi bật lên …)

Đấy chính là nhờ chủ nghĩa Marx – Lénine.

(Đại hội càng vỗ tay nhiệt liệt.)

Bây giờ tôi qua điểm thứ ba.

Đảng ta, – Nhiêm vụ Đảng ta cũng như nhiệm vụ các đảng đàn anh ta, Đảng Bolchévik, Đảng cộng sản Trung hoa, trong lúc chiến đấu bằng chính trị đã đều chiến đấu bằng quân sự. Như trước kia, trong đại chiến thứ hai – không nói đến thời kỳ cách mạng ở Xô-liên, cũng kháng chiến, kiến quốc như mới đây ở Trung quốc, là đánh Tưởng mà Tưởng do Mỹ giật mũi — , là kháng chiến chống đế quốc Mỹ, mà cũng là vừa kháng chiến vừa kiến quốc. Các Đảng đàn anh ta đề ra kháng chiến đệ nhất, thắng lợi đệ nhất. Ta cũng đề ra kháng chiến đệ nhất, thắng lợi đệ nhất, vì kháng chiến thắng lợi thì các việc khác giải quyết mới dễ dàng. Thế nên, chúng ta nói, kháng chiến trên hết, thắng lợi trước hết.

Muốn kháng chiến trên hết, thắng lợi trước hết, chúng ta phải học kinh nghiệm của các Đảng anh em ta. Như chú Hai vừa kể, có lần bên Xô-liên, đảng Bolchévik động viên đến 1/5 số đảng viên, nhưng chú nói còn ít đấy chứ có chỗ động viên đến 50% lúc chiến đấu gay go. Đảng Cộng sản Trung hoa cũng động viên hầu hết các đảng viên vào bộ đội, lúc lên đường vạn lý trường chinh. Đảng ta có bảy, tám mươi vạn. Rồi đây trung ương mới sẽ có chỉ thị về việc này, – Ít ra cũng phải động viên một vạn Đảng viên. Không kể số đảng viên hiện đã ở trong quân đội trực tiếp vào công việc kháng chiến.

(Đại hội vỗ tay, hoan hô nhiều lắm)

Với chủ nghĩa như thế, với Ông thày, Ông anh như thế, với lòng trung thành và kiên quyết của nhân dân ta, của Đảng ta, nhất định chúng ta thắng lợi.

(Hồ Chủ-tịch bước xuống diễn đàn. Đại hội đứng dậy vỗ tay vang dậy và hô lớn nhiều lần: Hồ Chí Minh Muôn năm! Muôn năm!)


ác Hồ nói chuyện với nông dân và xã viên HTX – NN Lai Sơn – Vĩnh Phúc ngày 30-3-1958.
Ảnh: http://dbnd.baclieu.gov.vn

Bản điện tử © 2010 Vũ Tường
Bản điện tử © 2010 talawas

[1] Chúng tôi cũng đánh máy đúng theo nguyên bản, kể cả những chữ in đậm và chữ cái.[2] Xem Ilya Gaiduk, Confronting Vietnam: Soviet Policy toward the Indochina Conflict, 1954-1963 (Washington, DC: Woodrow Wilson Center, 2003).
[3] Bản chụp tên bị nhòe.
[4] Bản chụp mờ, không nhận ra chữ gì.

Learn more Trí Nhân Media: Nguyễn Minh Cần và ĐCSVN

Các cô, các chú nên biết rằng: “Ai đó thì có thể sai, chứ đồng chí Stalin và đồng chí Mao Trạch Ðông thì không thể nào sai được.” Cả hội trường vỗ tay rầm rầm.


HCM nói chuyện với bà con nông dân Hùng Sơn – Đại Từ – Thái Nguyên năm 1954.
Ảnh: http://dbnd.baclieu.gov.vn

Ngày 19 tháng 5?

Trần Gia Phụng (danchimviet.info) – Theo tài liệu của đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN), Hồ Chí Minh (HCM) sinh ngày 19-5-1890. Tuy nhiên, trong đơn xin vào học Trường Thuộc Địa Paris (Pháp) năm 1911, lúc đó HCM có tên là Nguyễn Tất Thành, đã tự viết tay là ông sinh năm 1892. Trong đơn gia nhập hội Tam Điểm Paris năm 1922, do một người thợ chạm tên là Boulanger giới thiệu, HCM lúc đó lấy tên Nguyễn Ái Quấc (Quốc), tự đề là sinh ngày 15-2-1895. (Jacques Dalloz, “Les Vietnamiens dans la franc-maçonnerie colonial”, Revue française d’Histoire d’Outre-mer, Tam cá nguyệt 3, 1998, Paris: Société Française d’Histoire d’Outre-mer, tr. 105.) Những ngày nầy đều do HCM tự ghi theo từng giai đoạn trong cuộc đời ông. Vậy thật sự khó biết HCM sinh ngày nào? Một câu hỏi được đặt ra là tại sao cuối cùng HCM chọn ngày 19-5-1890 là ngày sinh của HCM?

1.- NGÀY RA MẮT CỦA MẶT TRẬN VIỆT MINH

Trước hết, ngày 19-5 là ngày HCM và đảng Cộng Sản (CS) ra mắt công khai mặt trận Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội (VNĐLĐMH), gọi tắt là Việt Minh (VM) tại Cao Bằng. Nguyên thủy, Việt Nam Độc Lập Đồng Minh Hội không do HCM thành lập mà do Hồ Học Lãm và Nguyễn Hải Thần thành lập năm 1936 tại Nam Kinh do nhu cầu liên kết những nhà hoạt động cách mạng Việt Nam ở Nam Kinh (Nanjing/Nan-ching, Trung Hoa) với sự giúp đỡ của Trung Hoa Quốc Dân Đảng (THQDĐ). Ngoài Hồ Học Lãm và Nguyễn Hải Thần, các hội viên nòng cốt khác là Nguyễn Thức Canh, Đặng Nguyên Hùng, Hoàng Văn Hoan [bí danh là Lý Quang Hoa, thuộc chi bộ Vân Quý tức Vân Nam (Yunnan) và Quý Châu (Guizhou) của đảng Cộng Sản Đông Dương (CSĐD).

Năm 1937, Hồ Học Lãm đến hoạt động ở tỉnh Hồ Nam (Hunan, Trung Hoa), và lấy tên là Hồ Chí Minh. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu nhân vật chí, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1997, tr. 168.) Cũng trong năm nầy, trước hiểm họa xâm lăng của Nhật Bản, hai phe Quốc-Cộng Trung Hoa liên minh lần thứ hai ngày 22-9-1937. Trong khi đó, những hoạt động của VNĐLĐMH mờ lạt dần. Hồ Học Lãm lại già yếu, di tản theo các đoàn quân Quốc Dân Đảng Trung Hoa chống Nhật, nên VNĐLĐMH chỉ còn trên danh xưng chứ không hoạt động gì nhiều.

Nhờ sự giới thiệu của Hồ Học Lãm, vào gần cuối năm 1940, một số đảng viên CSVN dưới lớp vỏ VNĐLĐMH đến Quế Lâm (Guilin/Kweilin) tỉnh Quảng Tây tiếp xúc với Lý Tế Thâm, một nhân vật cao cấp trong THQDĐ, thân cận với Tưởng Giới Thạch. Theo lời một đảng viên CS có mặt trong cuộc tiếp xúc nầy là Lý Quang Hoa (Hoàng Văn Hoan), thì “Qua cuộc nói chuyện với Lý Tế Thâm như vậy, cái danh nghĩa Việt Minh thực tế đã được thừa nhận, và cái danh nghĩa Biện sự xứ Việt Minh cũng mặc nhiên thành ra hợp pháp.” (Hoàng Văn Hoan, Giọt nước trong biển cả, hồi ký. Portland, Oregon: Nhóm tìm hiểu lịch sử, 1991, tr. 135.) Các đảng viên nầy thuộc cơ sở hải ngoại của đảng CSĐD, liên lạc và hoạt động với Hồ Quang, một gián điệp mới được Đệ tam Quốc tế Cộng sản gởi trở lại Trung Hoa năm 1938. Hồ Quang chính là HCM.

Sau đó, HCM về Việt Nam, tổ chức hội nghị Ban chấp hành Trung ương đảng CSĐD lần thứ 8 từ ngày 10-5-1941 tại lán Khuổi Nậm thuộc vùng Pắc Bó (Cao Bằng). Ngoài HCM, hội nghị chỉ có bốn uỷ viên Trung ương đảng CSVN tham dự là Đặng Xuân Khu, Hoàng Quốc Việt (tức Hạ Bá Cang), Hoàng Văn Thụ, Phùng Chí Kiên, và một số đại diện các xứ ủy Bắc Kỳ và Trung Kỳ. Không có đại diện Nam Kỳ. Hội nghị kết thúc ngày 19-5-1941 với các quyết định sau đây: 1) Ra mắt công khai mặt trận VNĐLĐMH (tức VM), bao gồm các hội Cứu quốc, như Hội công nhân cứu quốc, Hội nông dân cứu quốc, Hội văn hóa cứu quốc… 2) Đưa Đặng Xuân Khu, sau có bí danh là Trường Chinh lên làm tổng bí thư đảng CSĐD. 3) Đề ra chủ trương chuẩn bị võ trang khởi nghĩa. (Nguyễn Khánh Toàn chủ biên, Lịch sử Việt Nam tập II, Hà Nội: Nxb. Uỷ ban Khoa học Xã hội, 1985, tt.320-323.)

Qua diễn tiến trên đây, rõ ràng Nguyễn Ái Quốc lấy tên HCM của Hồ Học Lãm làm tên của mình và lấy tên tổ chức VNĐLĐMH (tứcVM) làm tên mặt trận của đảng CSĐD và công khai hóa hoạt động của mặt trận nầy tại Cao Bằng ngày 19-5-1941.

2.- TÌNH HÌNH DIỄN TIẾN

Tại Âu Châu, sau khi Đức thất trận và đầu hàng Đồng minh ngày 7-5-1945, đại diện Hoa Kỳ là tổng thống Harry Truman, đại diện nước Anh lúc đầu là thủ tướng Winston Churchill, sau là Clement Attlee (lãnh tụ đảng Lao Động, thắng cử ngày 25-7, lên làm thủ tướng thế Churchill), đại diện Liên Xô là Joseph Stalin, bí thư thứ nhất đảng CSLX, cùng họp hội nghị thượng đỉnh tại thị trấn Potsdam, cách 17 dặm về phía tây nam Berlin (Đức), từ ngày 17-7 đến 2-8-1945. Hội nghị có mục đích bàn về các vấn đề hậu chiến tại Đức, chung quanh việc phân chia các khu vực chiếm đóng, việc tái thiết nước Đức và các điều kiện đưa ra cho nước Đức thất trận.

Bên cạnh đó, cũng tại Potsdam, đại diện các nước Hoa Kỳ, Anh và Trung Hoa (tổng thống Tưởng Giới Thạch không họp, nhưng đồng ý qua truyền thanh), không tham khảo ý kiến của Pháp, cùng gởi một tối hậu thư cho Nhật Bản ngày 26-7-1945. Lúc đó, Nhật Bản còn tiếp tục chiến đấu ở Á Châu. Liên Xô không tham dự vào tối hậu thư vì Liên Xô chưa tham chiến ở Á Châu và chưa tuyên chiến với Nhật Bản. Tối hậu thư Potsdam
buộc Nhật Bản phải đầu hàng vô điều kiện, chấp nhận những điều kiện của Đồng minh, như chấm dứt quân phiệt, giải giới quân đội, từ bỏ đế quốc… Riêng về Đông Dương, tối hậu thư quyết định rằng quân Nhật sẽ bị giải giới do quân Trung Hoa ở bắc và do quân Anh ở nam vĩ tuyến 16(Spencer C. Tucker, Editor, Encyclopedia of the Vietnam War, Volume Two, Santa Barbara, California: ABC-CLIO, 1998, tr. 583.)

Tối hậu thư không đề cập đến ai sẽ cai trị Đông Dương sau khi quân đội Nhật bị giải giới và rút về nước, nghĩa là không đưa ra một giải pháp chính trị cho tương lai Đông Dương, ngầm mở đường cho Pháp trở lại Đông Dương. Lúc đó, Truman (Hoa Kỳ) chủ trương tôn trọng chủ quyền của Pháp tại Đông Dương để Pháp ủng hộ Hoa Kỳ tại châu Âu. (Robert S. McNamara, In Restrospect, New York: Times Books, 1995, tr. 31. Spencer C. Tucker, sđd. tr. 888.) Lợi dụng việc nầy, khi Trung Hoa và Anh đưa quân vào Việt Nam giải giới quân đội Nhật Bản, Pháp thương thuyết với Trung Hoa và Anh để trở lại Đông Dương.

Sau khi Nhật đầu hàng ngày 14-8-1945, HCM và mặt trận VM cướp chính quyền và thành lập chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày 2-9-1945. Trong khi đó, thi hành tối hậu thư Potsdam, ngày 13-9-1945, tướng Douglas Gracey chỉ huy lực lượng Anh giải giới quân đội Nhật, có mặt ở Sài Gòn. Ngày 14-9-1945, tướng Lư Hán dẫn quân Trung Hoa đến Hà Nội.

Ngày 8-10-1945, tại London, đại diện hai chính phủ Anh và Pháp ký Tạm ước hành chánh và tư pháp phía nam vĩ tuyến 16 ở Việt Nam, theo đó, Anh quyết định: 1) Yểm trợ Pháp tái chiếm Việt Nam. 2) Chấp nhận chính quyền Pháp ở Sài Gòn. 3) Giao quyền cai trị Nam vĩ tuyến 16 cho Pháp. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập A, Houston: Nxb. Văn Hóa: 1996, tt. 275-276.)

Ngày 28-2-1946 tại Trùng Khánh (Chongqing, Trung Hoa), ngoại trưởng Trung Hoa là Vương Thế Kiệt (Wang Shih-chiek) và đại sứ Pháp tại Trung Hoa là Jacques Meyrier ký kết Hiệp ước Pháp-Hoa về việc quân Pháp thay thế quân Trung Hoa ở phía bắc vĩ tuyến 16 tại Đông Dương, theo đó Trung Hoa chịu rút quân ra khỏi Việt Nam từ ngày 1 đến 15-3, và chậm nhất là ngày 31-3-1946. Ngược lại, Pháp trả về cho Trung Hoa các tô giới Pháp ở Thượng Hải, Hán Khẩu, Quảng Đông, Quảng Châu Loan, bán cho Trung Hoa thiết lộ Vân Nam, sửa đổi quy chế người Hoa ở Đông Dương, miễn thuế người Hoa ở Hải Phòng, và người Hoa chuyên chở hàng hóa ngang qua Bắc Kỳ sẽ khỏi phải chịu thuế. (Hoàng Văn Đào, Việt Nam Quốc Dân Đảng, tái bản kỳ 2, Sài Gòn 1970, tr. 300.)

Sau khi ký kết tạm ước London với Anh, Pháp tái chiếm Nam Kỳ rồi đổ quân ra Bắc Kỳ. Ký kết xong hiệp ước Trùng Khánh với Trung Hoa, hạm đội Pháp đưa quân đến Hải Phòng ngày 6-3-1946. Quân Trung Hoa rút về nước, giao lại Bắc Kỳ cho quân Pháp.

Tại Hà Nội, được tin hạm đội Pháp xuất hiện ở ngoài khơi Hải Phòng vào chiều ngày 5-3-1946 và chuẩn bị đổ bộ vào sáng ngày hôm sau (6-3-1946), HCM báo cho Jean Sainteny, đại diện Pháp tại Hà Nội, biết là ông ta đồng ý ký hiệp ước với Pháp, mà Pháp đã bí mật giao bản dự thảo ngày 7-12-1945. Vào chiều ngày 6-3-1946, tại số 38 đường Lý Thái Tổ, Hà Nội, HCM, với tư cách chủ tịch chính phủ Liên hiệp kháng chiến, ký thỏa ước Sơ bộ với Jean Sainteny.

Theo thỏa ước nầy: Pháp thừa nhận Việt Nam là một quốc gia tự do (état libre), có chính phủ riêng, nghị viện riêng và tài chính riêng trong Liên Bang Đông Dương và trong Liên Hiệp Pháp; Việt Nam sẵn sàng tiếp đón quân đội Pháp đến thay thế quân đội Trung Hoa để giải giáp quân đội Nhật. Bên cạnh đó, cũng trong ngày 6-3-1946, hai bên ký một phụ ước quân sự, minh định hoạt động quân đội mỗi bên. Theo điều 1 của phụ ước nầy, VM đồng ý để quân đội Pháp thay quân đội Trung Hoa ở phía bắc vĩ tuyến 16, nghĩa là quân đội Trung Hoa sẽ rời khỏi Việt Nam, dầu Việt Nam không ký kết thỏa ước với Trung Hoa. Lực lượng Pháp tại Bắc Kỳ lên đến 15,000 quân. (Chính Đạo, Việt Nam niên biểu, tập A: 1939-1946, Houston: Nxb. Văn Hóa, 1996, tt. 313-318.)

Như thế VM không chống Pháp mà lại chính thức hợp thức hóa sự hiện diện của quân đội Pháp tại Việt Nam. Điều nầy hoàn toàn trái ngược với lời thề chống Pháp của HCM khi trình diện chính phủ vào ngày 2-9-1945, gây sự bất bình trong các giới chính trị và trong đại đa số quần chúng. Dân chúng tố cáo rằng HCM và VM đã rước thực dân Pháp trở lại Việt Nam. Nguyên văn lời thề cuối cùng trong ba lời thề ngày 2-9 như sau: “Nếu Pháp đến xâm lăng lần nữa thì chúng tôi xin thề: không đi lính cho Pháp, không làm việc cho Pháp, không bán lương thực cho Pháp, không đưa đường cho Pháp.” (Tô Tử Hạ và nhiều tác giả, 60 năm chính phủ Việt Nam [sách song ngữ Việt-Anh], Hà Nội: Nxb.Thông Tấn,2005, tr. 26.).

3.- TẠI SAO SINH NHẬT NGÀY 19-5?

Sau khi tái chiếm Nam Kỳ, Pháp lần lượt tiến quân qua Cao Miên, Lào, lên phía trên vĩ tuyến 16 và Bắc Kỳ. Ổn định xong tình hình các nơi, đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu, cao ủy Pháp tại Đông Dương, quyết định mở cuộc kinh lý khu vực phía bắc vĩ tuyến 16 ngày 14-5-1946. D’Argenlieu đến Vạn Tượng (Vientiane, Laos) ngày 17-5-1946, rồi đến Hà Nội chiều ngày 18-5-1946.

Lúc đó, nhà cầm quyền VM ra lệnh treo quốc kỳ (cờ đỏ sao vàng) trong ba ngày , từ ngày 18-5 đến hết ngày 20-5 nói là để mừng sinh nhật chủ tịch Hồ Chí Minh là ngày 19-5. Ngày nầy khác với ngày tháng năm sinh trong các đơn HCM xin vào học trường Thuộc Địa Paris và đơn gia nhập Hội Tam Điểm Pháp. Từ khi bước vào hoạt động chính trị, HCM hoàn toàn không đề cập đến sinh nhật của ông ta, thì tại sao nhân cuộc viếng thăm của D’Argenlieu lại có chuyện sinh nhật HCM ngày 19-5?

Vì vậy, dư luận dân chúng cho rằng HCM ngụy tạo sinh nhật để treo cờ, nhằm đón tiếp D’Argenlieu theo nghi thức ngoại giao. D’Argenlieu là cao uỷ Pháp tại Đông Dương. Hồ Chí Minh ký hiệp định Sơ bộ (6-3-1946), đặt Việt Nam nằm trong Liên Bang Đông Dương, thuộc Liên Hiệp Pháp. D’Argenlieu là đại diện của chính phủ Pháp tại Đông Dương, đứng đầu Liên bang Đông Dương, nên HCM phải treo cờ đón tiếp D’Argenlieu.

Nếu treo cờ để đón đại diện chính phủ Pháp thì HCM và nhà cầm quyền VM sợ dân chúng phản đối và kết tội phản bội, nên HCM mượn cớ treo cờ mừng sinh nhật của mình, để tránh sự bất bình của dân chúng vì lúc đó tinh thần chống Pháp của dân chúng rất cao. Cần chú ý, ngày 19-5 là ngày ra mắt công khai mặt trận Việt Minh năm 1941 ở Pắc Bó, Cao Bằng. (Đã viết ở trên.)

Như thế, ngày 19-5 không phải là ngày sinh của HCM mà vì lý do chính trị, HCM và nhà cầm quyền VM công bố ngày nầy để treo cờ, đón tiếp cao ủy Pháp tại Đông Dương, đô đốc D’Argenlieu. Tư đó, CSVN chọn luôn ngày nầy làm lễ kỷ niệm sinh nhật HCM. Xin để ý thêm là CSVN chỉ kỷ niệm sinh nhật HCM, nhưng không kỷ niệm sinh nhật của những lãnh tụ khác, kể cả Lê Duẫn, bí thư thứ nhất Trung ương đảng Lao Động từ 1960 đến 1976 và tổng bí thư đảng CSVN từ 1976 đến 1986, nghĩa là 26 năm cầm đầu đảng LĐ rồi đảng CSVN, hoặc Phạm Văn Đồng, thủ tướng CSVN từ 1955 đến 1987. (thủ tướng 32 năm.)

Ngày sinh HCM không rõ, mà HCM sinh năm nào cũng không rõ. Trong đơn xin vào học trường Thuộc địa Paris, HCM tự viết tay ông sinh năm 1892. Khi gia nhập hội Tam Điểm Pháp, phiếu của ông đề sinh năm 1895. Nay nhân dịp phải đưa ra ngày sinh để treo cờ, thì HCM lại cho biết ông ta sinh năm 1890? Trong ba năm nầy, thì năm nào đúng, hay cũng không năm nào đúng cả?

Chỉ có một điều rõ ràng là HCM chết ngày 2-9-1969, trùng với ngày quốc khánh của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, nên đảng Lao Động do Lê Duẫn đứng đầu, sợ xui xẻo, phải đổi ngày chết của HCM qua thành ngày 3-9-1969. Cho đến năm 1989, ba năm sau khi Lê Duẫn chết, bộ Chính trị đảng CSVN do Nguyễn Văn Linh lãnh đạo mới cải chính lại HCM chết ngày 2-9-1969. Cũng nhân dịp cải chính nầy, bộ Chính trị đảng CSVN công bố nguyên văn bản gốc di chúc của HCM, thay thế bản di chúc của HCM đã bị Lê Duẫn sửa sau khi HCM chết ngày 2-9-1969. (Nhà xuất bản Thanh Niên, Toàn văn di chúc của chủ tịch Hồ Chí Minh, không đề năm xuất bản.)

KẾT LUẬN

Lối giải thích thông thường của CSVN là vì HCM hoạt động chính trị nên phải nhiều lần thay đổi tên họ, thay đổi ngày tháng năm sinh. Điều đó không có gì đáng nói. Điều đáng nói là HCM thay đổi tên họ, ngày tháng năm sinh, để hoạt động gián điệp cho Đệ tam quốc tế cộng sản, phục vụ quyền lợi ngoại bang.

Con đường nầy đã đưa HCM trở thành nhà độc tài thứ 11 trong 13 nhà độc tài tàn ác nhất trên thế giới trong thế kỷ 20, gây ra cái chết của 1,700,000 người Việt, theo bảng sắp hạng của Polska Times tức Thời Báo Ba Lan ngày 5-3-2013. (Đàn Chim Việt Online Edition ngày 20-3-2013). Cũng chính con đường nầy đã đưa đất nước và dân tộc Việt Nam càng ngày càng suy vong, và nguy hiểm nhất hiện nay là hiểm họa xâm lăng và đồng hóa của kẻ thù truyền kiếp là bá quyền Trung Quốc.

Liệu Marx vẫn còn thích hợp?

Jonathan Sperber (ABS 04)Huỳnh Phan dịch – Karl Marx vẫn còn thích hợp hay không? Ông sống ở thế kỉ 19, một thời đại rất khác với thời đại chúng ta, dù cũng có một trong số rất nhiều các đặc điểm của xã hội ngày nay đã bắt đầu hình thành trong thời đó. Khảo sát về tính thích hợp của tư tưởng Marx vào những năm đầu thế kỉ 21 này có thể bắt đầu với việc tách biệt các yếu tố lỗi thời với các yếu tố có khả năng phát triển trong hiện tại trong tư tưởng của ông.

Trong số các yếu tố lỗi thời là những quan niệm như lí thuyết lao động về giá trị, hay xu hướng về tỉ suất lợi nhuận giảm, cả hai đều xuất phát từ các lí thuyết kinh tế của Adam Smith và David Ricardo, và liên quan đến một phiên bản bây giờ rất lỗi thời về chủ nghĩa tư bản, đặc trưng bởi mức tăng năng suất thấp và khu vực nông nghiệp lớn, dưới áp lực của tăng trưởng dân số. Ý tưởng của Marx về lịch sử nhân loại như sự tiến triển tất yếu của các phương thức sản xuất, từ phương thức “châu Á” trong quá khứ xa xôi đến một tương lai cộng sản, có vẻ như là dấu vết của các lí thuyết thực chứng về các giai đoạn lịch sử, phù hợp với thời đại của Herbert Spencer và Auguste Comte hơn là những kinh nghiệm lịch sử của thế kỉ 20.

Và những ý tưởng có khả năng phát triển thì sao? Có 3 ý tưởng hiện đến.

Một là ý tưởng cho rằng các quan niệm tư tưởng và các phong trào chính trị thể hiện chúng là gắn bó chặt chẽ với cấu trúc xã hội và lợi ích kinh tế tập thể. Marx gọi cái sau là “cơ sở” và cái trước là “cấu trúc thượng tầng”, ta không cần phải đồng ý với phép ẩn dụ này hoặc với sự ưu tiên mà nó muốn nói để thấy rằng đó là một quan niệm có kết quả. Ông lần đầu tiên phát triển dòng phân tích này để lí giải các hình thức khác nhau của chủ nghĩa bảo hoàng ở Pháp vào những năm 1840, nhưng chính trị đương đại, với cuộc đối chọi về mục tiêu chính trị khác nhau cao đô tất cả đều quá rõ ràng gắn bó với lợi ích kinh tế hoặc với các nhóm xã hội, cũng có có thể được hiểu theo cách này. Cuộc bầu cử tổng thống gần đây của Mỹ, với các lời lẽ hùng hồn về các tỉ lệ “1%” và “47%” (tỉ lệ dân số mà Mitt Romney cho rằng không đóng thuế) là một ví dụ tốt, cũng như các cuộc tranh luận về chính sách thắt lưng buộc bụng ở Vương quốc Anh và Liên minh châu Âu, diễn đạt về mặt nợ chính phủ, mặc dù thực sự về nhóm xã hội nào sẽ chịu chi phí cho việc tái cấu trúc kinh tế.

Thứ hai, các trao đổi thị trường bề ngoài là tự do và tự nguyện lại chứa trong mình các yếu tố của sự thống trị và bóc lột. Vào lúc bắt đầu của thời đại công nghiệp hoá ở Anh, những yếu tố này thấy rất rõ: những thợ dệt và người vận hành đói rách các xưởng làm quần quật 14 giờ mỗi ngày trong các nhà máy dệt nóng hầm hập, bụi bặm. Hiện nay, các yếu tố như vậy là tinh vi hơn ở nhiều quốc gia giàu có – mặc dù chúng vẫn còn thấy khá rõ, như ở Bangladesh chẳng hạn – xét kết quả ba thập kỉ của chính sách công đề cao trao đổi thị trường, và xem thường những hậu quả tiêu cực của chúng, có thể chúng ta sẽ muốn đi theo cái nhìn sâu sắc của Marx với sự nghiêm túc nhiều hơn. Ông thấy ra biện pháp khắc phục cho tình huống trong cách mạng bạo lực, theo sau bằng hàng thập kỉ nội chiến và chiến tranh quốc tế, dẫn đến một xã hội không tưởng trong đó sự phân biệt giữa các cá nhân và xã hội, giữa xã hội và nhà nước, bị tan biến đi. Những nỗ lực hiện thực hoá mục tiêu này trong thế kỉ 20, trong những hoàn cảnh phải thừa nhận là hoàn toàn khác với Marx dự kiến, ở Liên Xô, Trung Quốc hay Campuchia, đã diễn ra rất tệ hại, có lúc còn mang tính diệt chủng. Biện pháp khắc phục khiêm tốn hơn bao gồm các công đoàn vững mạnh, các chương trình phúc lợi xã hội hào phóng và các quy định có hiệu quả về lĩnh vực tài chính – mặc dù, trong thế giới ngày nay, đôi khi có vẻ như các giải pháp này cũng không tưởng như các giải pháp của Marx.

Cuối cùng, sự hiểu biết rằng một nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không phải là một hệ tự động tự điều chỉnh, mà là định kì đi vào những thời kì tự tạo ra suy sụp. Marx gọi là những thời kì này là “khủng hoảng”, hiện nay, chúng ta dùng một từ nhẹ nhàng hơn là “suy thoái”. Thời kì suy thoái gần đây nhất, bắt đầu từ năm 2007-08, đáng được gọi bằng tên cũ, xét theo mức độ nghiêm trọng, dai dẵng và tác động toàn cầu của nó.

Trong cuốn Tư bản luận, Marx đưa ra một số lí giải cho việc lập lại của các cuộc khủng hoảng. Lí giải thú vị nhất xuất phát từ thời ông làm phóng viên doanh nghiệp và tài chính cho tờ New York Tribune vào những năm 1850, tờ báo lớn nhất thế giới lúc đó. Trong thảo luận về cuộc khủng hoảng năm 1857, thường được coi là cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu đầu tiên, Marx chú tâm vào các chính sách của Crédit Mobilier, ngân hàng đầu tư đầu tiên của thế giới. Ông lưu ý và kinh hãi rằng những quy chế của ngân hàng cho phép nó vay tới mức gấp 10 lần vốn của nó. Sau đó nó sử dụng các món tiền này để mua cổ phiếu hoặc cấp vốn cổ phần hóa cho tập đoàn đường sắt và công nghiệp Pháp, làm tăng cao sản lượng. Nhưng khi không tìm được người mua cho việc sản xuất mở rộng, ngân hàng phát hiện ra rằng các cổ phiếu nó mua đã giảm giá trị xuống, khiến nó bị khó khăn trong hoàn trả vốn vay. Thay Crédit Mobilier bằng Lehman Brothers hoặc Ngân hàng Anglo Irish, và tập đoàn đường sắt và công nghiệp Pháp bằng Nevada hoặc công ti bất động sản Irish, là chúng ta có một hình ảnh hợp lí về nguyên nhân chính của sự bất ổn tài chính gần đây.

Điều này không có ý nói rằng chỉ có Marx là nhà tư tưởng duy nhất chất vấn về tính tự động tự điều chỉnh của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, hoặc thậm chí là người thấy nó trước nhất. Ông là một thành phần của một truyền thống kinh tế bất đồng bắt đầu với Sismondi rồi tiếp tục vòng vèo, qua John Maynard Keynes và Hyman Minsky, tới Joseph Stiglitz và Paul Krugman. Đối với các gợi ý chính sách cụ thể, những khuôn mặt gần đây có thể hữu ích hơn. Nhưng những nhận thức sâu sắc thế kỉ 19 của Marx vẫn cho ta nhiều cách thú vị để suy tư về các nhận thức thế kỉ 21.

Karl Marx của Jonathan Sperber do Norton xuất bản.

Nguồn: The Guardian
Mời xem lại: Không thiêu đi để làm gì (Đinh Văn Khôi).

Advertisements

1 Comment

Filed under Hồ Chí Minh

One response to “Chủ nghiã của ba ông, hai anh

  1. Pingback: Sự Thật Võ Nguyên Giáp | Nhận thức là một quá trình...

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s