Từ vứt bỏ sách cũ có giá trị đến… ồ ạt làm ra sách mới sách rởm

Vương Trí Nhàn –  Tiếp tục câu chuyện về nỗi thê thảm của sách – Tại sao lại có tình trạng thê thảm của sách như tôi đã nói ? Ta hãy cùng tìm tới những nguyên nhân đã lùi về xa. (Đăng lại bài Nhat&Nguyet đã đăng 06/6/2013)

� Xem thêm: Nỗi thê thảm của sách vở thời nay – Việc truy lùng… đốt sách ở VN đã xảy ra 3 lần, năm 1414, 1954 và 1975 – Để tang cho sách hay để tang cho người?

► Bài liên quan: Góp nhặt buồn vui thời điêu linh: Đốt sách

Nỗi thê thảm của trí tuệ

Năm 1954, khi Hà Nội đón đoàn quân từ Việt Bắc trở về, các trường trung học cũ chuyển thành trường cấp II cấp III, trong số những điều nhiều thanh niên học sinh mới lớn chúng tôi được truyền thụ và phải nhập tâm là tinh thần thực tiễn.

Cái anh này có vẻ sách vở quá! Từ lúc nào tất cả đều hiểu đó là cái câu dùng để chê nhau, mặc dầu chúng tôi đang sống với sách, đang đi học. Trong chốn học đường, không gì lố bịch hơn là một người thích đọc sách.

Mấy chục năm qua đi, rồi cái tinh thần vô sư vô sách ấy đã được chính thức hóa trong tất cả các cấp học trong mọi bộ môn.

Thà một cây chông trừ giặc Mỹ
Hơn ngàn trang sách luận văn chương

Một trong những câu thơ Tố Hữu mà tôi nhớ nhất là cái câu chà đạp lên sách như vậy.

Sài Gòn sau 30-4, hẳn nhiều người còn nhớ giữa những phố xá bán đầy hàng cũ, có cả những con đường sách. Sách cũng được bày bán như mọi thứ hàng tầm tầm khác. Trước đó ở đồng bằng Bắc bộ và khu bốn cũ sau Cải cách ruộng đất, sách vở trong các gia đình địa chủ có học cũng bị mang nhóm bếp tất.

Bởi sách vở là tinh hoa nên phải chịu chung số phận với mọi bộ phận ưu tú trong xã hội là người giàu (tinh hoa trên phương diện làm ăn) và kẻ sĩ (tinh hoa trên phương diện nhận thức cuộc sống.)

Từ tạm thời bỏ sách đến đoạn tuyệt với kiểu sống cần sách vở

Khi mới bước vào cách mạng và kháng chiến, nhiều thanh niên VN lúc ấy tự nhủ: nay là thời vứt sách. Tức một thời điểm bất thường. Chỉ có hành động là quan trọng. Không được trù trừ phân vân. Không được tính trước tính sau gì cả. Chẳng những phải vứt sách mà phải quên hết những điều sách vở đã nói với mình đã dạy dỗ mình.

Cái tinh thần xấu hổ mà bọn tôi tiếp thu được ở HN sau 1954 vốn có nguồn gốc là thế.

Với hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng hô hào vứt sách lúc đó là cần thiết. Chỉ có điều cách mạng cứ khó khăn mãi. Cái khẩu hiệu đáng lẽ chỉ có quyền trương lên tạm thời biến thành khẩu hiệu vĩnh viễn.

Có cả một phong trào bài bác trí tuệ bài bác sách vở, trên thực tế là triệt hạ mọi sách vở tử tế, triệt hạ mọi đầu óc có suy nghĩ.

Để rồi khi cần lại tạo ra một loại sách vở mới, tạo ra lớp người viết sách mới. Chỉ có điều, do đã cắt đứt hết mọi mối liên lạc với lịch sử, nên cái mới này sẽ mang bộ mặt thê thảm và một chất lượng kém cỏi hiếm thấy.

Những cuốn sách bị cấm

Bài trước tôi đã kể ấn tượng mãi về những cuốn sách Pháp gọn gàng mộc mạc mà lại nuột nà, sách của những nhà Gallimard, Grasset, Hachette. Sách vừa đẹp vừa nhã, giấy không trắng quá, chữ in rõ ràng. Cầm quyển sách cứ nhẹ bỗng mà đọc vào lại thấy một nội dung thật nặng, thật nghiêm chỉnh.

Đó là số sách mà trong chiến tranh chống Mỹ Đại sứ quán Pháp ở Hà Nội tặng cho Hội nhà văn VN. Hồi ấy còn nhiều nhà văn biết tiếng Pháp nên đó là cả một kích thích thú vị cho những người ham hiểu biết.

Nhưng có lệnh từ trên là không được cho dịch đã đành, mà cũng không được phổ biến rộng rãi. Tổng thư ký Nguyễn Đình Thi dặn bà Huệ phụ trách Thư viện , chỉ những nhà văn cỡ trung kiên được gọi là thường vụ và những người được ông Thi trực tiếp đồng ý mới được mượn.

Cái có giá trị và được cả thế giới công nhận phải được coi cái xa lạ hơn thế nữa, hư hỏng sai lạc, không bằng những cái ta làm ra(!).

Sự tự cô lập về mặt trí tuệ là đầu mối của mọi thảm họa trên mọi phương diện khác.

Sau chiến tranh, số phận những cuốn sách của những tác giả nổi tiếng trong văn học phương Tây hiện đại ấy đã có phần thay đổi.

Nay là lúc các nhà làm sách đua nhau tìm xem có loại nào đang trở thành thời thượng ở phương Tây thì dịch ngấu dịch nghiến, tung ra cho độc giả xài.

Nhưng lớp độc giả nghiêm chỉnh xưa đâu còn nữa và cái mà ta tưởng đáng tiếp thu nhận ngay có khi lại là những bọt bèo rác rưởi của một phương Tây đến ngày nay ta vẫn chưa thật hiểu.

Tôi kể những chuyện này để lưu ý rằng nền sách vở mà chúng ta xây dựng về sau ở vào một độ lùi đáng kể với sách thế giới, và chúng ta cứ thế mà tụt hậu mãi.

Việc nào tác hại hơn?

Chỗ đau nhất của sách thời nay như vậy là ở sự lộn sòng giữa sách thực và sách giả, giữa cái không phải là sách và sách thực sự. Và theo tôi hiểu không thời nào sự lộn sòng đó công khai và tràn lan như bây giờ.

Ai cũng có thể rút ra kết luận đó nếu có lần vào đọc ở các thư viện công cộng. Ở đó, sách cũ sách có giá trị thì bị xếp xó. Sách mới , những cuốn sách cạn cợt nông nổi thì được trưng ra thật đẹp và sự thực là trở thành cần thiết với một lớp trẻ chỉ biết lao vào thi cử, nghĩa là nói y hệt điều người ta đã nhét vào đầu mình để ăn điểm.

Giá mang đặt lên bàn cân hai sự kiện, một là việc rẻ rúng những cuốn số sách cũ có giá trị và hai là việc làm ra vô vàn những cuốn sách mới nghèo nàn mỏng mảnh kém coỉ giả dối rồi lại thượng chúng lên như những tài sản vô giá mà con người thời nay gửi cho tương lai, không rõ việc nào gây tác hại hơn.

Thời nay sách đã được viết như thế nào?

Tại một tỉnh nọ khi có chủ trương lập ra Hội văn nghệ thì một cán bộ tuyên huấn được cử sang phụ trách. Anh em xì xào ông này không phải nhà văn. Ông ta tức lắm, liền bỏ tiền ra thuê một người viết một cuốn tiểu thuyết.

Tiền in đã có cơ quan lo.

Còn tiền trả cho người làm thuê? Ông ta đã có cách là lập ra một Hội đồng xét giải rồi tự cho mình giải thưởng. Sau này ông ta còn dùng cuốn sách đi thuê người viết nói trên làm bằng để xin vào Hội cấp trên nữa. Tính ra có cả lãi đơn lãi kép.

Trường hợp trên, tôi chỉ nghe kể, chứ không tận mắt chứng kiến. Sở dĩ tôi sẵn sàng tin và muốn mọi người cùng tin, vì nó chỉ là biểu hiện tập trung của một sự thực.

Là thời nay, mối quan hệ giữa sản phẩm là sách và các chủ thể viết sách, mối quan hệ ấy đang có một sự đứt gẫy đổ vỡ hoặc nói như một thuật ngữ xã hội học – đang bị tha hóa. Người ta viết sách rất cẩu thả, không phải viết bằng con người lao động chăm chỉ trong mình mà viết như làm hàng, viết như ăn cướp.

Thỉnh thoảng báo chí đã nêu đích danh những vụ đạo văn. Nhưng đó chỉ là phần nổi của tảng băng.

Còn rất nhiều trường hợp khác, tuy không dùng lại câu cú chữ nghĩa của người khác, nhưng tinh thần của toàn bộ cuốn sách người ta đứng tên là đi mô phỏng đi thuổng đi nhặt nhạnh rồi mông má lắp ghép lại, chữ hồi trước gọi là cao đan hoàn tán .

Đã không thấy sự có mặt của một tác giả trong những cuốn sách làm hàng ấy. Thế thì có khác chi ông cán bộ đi gọi người viết thuê vừa nói ở trên?

Sự thê thảm bộc lộ ngay trong những cuốn sách bề ngoài hào nhoáng.

Một loại tác giả “ăn khách” chỉ có ở thời nay

Nhà thơ nọ công tác ở một vùng công nghiệp. Luôn luôn anh có thơ in ra và số lượng in các tập thơ của anh thường hơn hẳn các đồng nghiệp ở TW.

Hỏi ra mới biết sở dĩ thơ anh “bán” chạy như vậy nhờ tác giả có mối quen thân với những người làm công tác tuyên truyền và thi đua trong vùng. Sách anh in được đưa vào tủ sách của các công đoàn cơ sở và làm phần thưởng cho các cá nhân có thành tích trong các đợt thi đua địa phương. Tích lại nhiều năm số lượng in lớn có gì là lạ.

Sách dùng để làm gì?

Thời nay có nhiều nhà văn người ta chỉ nghe tên mà không ai kể ra được là ông ta có tác phẩm nào cụ thể. Không phải đó là người lười viết. Tổng cộng sách đứng tên ông cũng vô khối. Chỉ có điều đó là sách nắm sách mớ, sách in ra mà như đứa trẻ hữu sinh vô dưỡng.

Thế sách các nhà văn đó viết đi đâu?

Nhớ một mẩu chuyện vui vui.

Tại quầy cho mượn sách ở một thư viện, người ta thấy một độc giả lùn tịt mè nheo với người thủ thư:

– Tôi đã bảo chị cho tôi mượn một trong những cuốn sách dày kia cơ. Cuốn nào cũng được, càng dày càng tốt.
— Ơ cái anh này! Đó đâu phải là sách dùng cho chuyên ngành của anh?
— Không, tôi không cần đọc. Tôi chỉ cần mượn để kê cao chỗ ngồi.

Nhiều cuốn sách ngày nay sở dĩ là được in ra, được đọc , được trích dẫn được trao giải thưởng nữa, nếu hiểu kê cao theo nghĩa bóng, thì cũng chỉ là để kê cao chỗ ngồi của người viết và người sử dụng mà thôi!

Nỗi thê thảm của sách vở thời nay

Vương Trí Nhàn – Thói quen khai vống khai liều để lấy thành tích vốn không lạ với xã hội ta. Trong chuyện kinh tế còn thế nữa là trong văn hóa. Văn hóa là dễ lấp liếm hoặc nói bốc lên nhất.

Số lượng

Thống kê của các cơ quan văn hóa mà báo chí đăng lại 12-4 -2013 cho biết tính ra người Việt một năm chỉ đọc 0,8 một cuốn sách. Trên mạng thấy có người đã đem con số này ra so sánh với thế giới. Thì thấy ví dụ người Trung Quốc là 4,23 cuốn/người/năm. Thái Lan, Malaysia đều cao hơn so với Việt Nam.

Thành thử con số 0, 8 ở trên chỉ có thể dùng tạm.

Cái gọi bằng sách trong thống kê này hẳn bao gồm thượng vàng hạ cám đủ loại khác nhau và ở đó chắc chắn có nhiều tập giấy in chứ không thể gọi là sách được. Sách không ra sách, sách bất thành nhân dạng có tỷ lệ lớn. Có những cuốn không hề được lật ra, không hề được đọc, sau khi in ra chỉ xếp vào các thư viện chờ ngày thanh lý.

Hồi mới bung ra trong làm ăn, đã thấy có tình trạng một số sách bán chạy phải khai ít đi để trốn quản lý phí. Nhưng cái thời đó qua đi rất nhanh. Mà số lượng sách được đọc nhiều theo kiểu đó cũng chẳng phải là dấu hiệu tốt đẹp gì. Làm sao có thể coi cái sự chạy theo thời thượng ở một xã hội tiểu nông là tốt đẹp được?

Nay là một thời khác. Nhiều tập thơ thì tuy ở ngoài ghi cũng là in 1000, thực ra chỉ in một vài trăm, vì thơ có bán được đâu. Nhưng các nhà thơ thích làm thế để cho thiên hạ biết là mình được đọc nhiều lắm.

Một số sách dịch ở ta được in ra là do tài trợ nước ngoài. Muốn xin được nhiều tài trợ người ta phải giả dối khai cao lên để nhận tiền, ví dụ sách in chỉ một ngàn nhưng đề hẳn ở sau là ba ngàn. Nói dối người nước ngoài ở ta không bao giờ bị lên án cả.

Hình thức bên ngoài cũng là dấu hiệu chất lượng

Có những điều chúng ta đã quen mắt nên thấy bình thường. Nhưng đặt vào một khung cảnh xa rộng sẽ thấy rõ thực chất hơn. Có lần trên TV giới thiệu sách VN mang bày tại Đại sứ quán Pháp để khách quốc tế tới xem. Trên màn ảnh chỉ thấy những cuốn sách mỏng dính nhưng lại lố lăng lòe loẹt.

Có người sẽ cãi đó chỉ là cái hình thức bên ngoài? Không, tình trạng của nội dung cũng là tương tự. Kỹ thuật biên soạn ở ta chỉ ở vào trình độ làm sách của những nước lạc hậu nhất trên thế giới.

Nội dung đầu Ngô mình Sở lam nham, cách trình bầy sắp xếp luộm thuộm.

Trong các báo cáo thường cũng nhấn mạnh là có nhiều sách phục vụ đại chúng bao gồm từ nông thôn đến biên giới hải đảo. Nhưng trong giới người ta đều hiểu ngầm với nhau các loại sách phục vụ nhiệm vụ chính trị này được làm rất cẩu thả. Sách giáo khoa cũng thế. Cẩn thận trong chi tiết lặt vặt nhưng lại cũ kỹ xơ cứng trong những vấn đề lớn. Chỉ oai hơn ở chỗ được coi là sách chuẩn.

Ngay cái mà ta gọi là các công trình nghiên cứu, hoặc các giáo trình là niềm tự hào của các trường đại học, thì cũng là công trình thô sơ, không thể nói là đạt tới trình độ của nghề viết sách trên thế giới hôm nay. Sự nhếch nhác trong loại sách cao cấp này còn bộc lộ ở chỗ một số cuốn chỉ lược thuật sách của nước ngoài mà tác giả lại cứ làm như mình viết ra. Tiếng trong nghề gọi là thuổng, luộc.

Các nhà văn đồng nghiệp của tôi còn hay có cái ảo tưởng hão huyền là lúc nào một tác giả VN sẽ được giải Nobel văn chương. Theo tôi biết, các nhà nghiên cứu thực thụ – cả bên khoa học tự nhiên lẫn khoa học xã hội – thì biết mình biết ta hơn. Họ thừa hiểu cái chuyện từ nay tới lúc có những cuốn sách được dịch ra tiếng nước ngoài, nghĩa là góp phần vào guồng máy nghiên cứu của họ – ngày đó xa lắm.

Những bước thay đổi vô nghĩa.

Ở Hà Nội trước 1975, thỉnh thoảng một người làm báo như tôi cũng được thấy vài cuốn sách in ở phương Tây do người đi nước ngoài mang về. Không rõ nội dung, chỉ cần nhìn vào cách in ấn đã thấy ta đi sau họ mấy thế kỷ.

Thời nay thì kỹ thuật chúng ta nhập vào đã mang tới một sự tiến bộ. Có một số cuốn cũng làm được như sách Tây sách Tầu. Nói chung là sách đẹp, nuột nà hơn trước nhiều. Nhưng nhiều khi những cuốn sách đẹp đó lại không phải là những cuốn có giá trị về mặt nội dung.

Hoặc đó là của mấy người buôn bán có tiền quay ra chơi bời viết sách làm sang. Phổ biến hơn là sách của những cơ quan nhà nước muốn khoe mẽ, lấy vẻ trang trọng bên ngoài che đi phần nông cạn bên trong. Ngoài ra còn có loại sách cấp dưới làm để tô son đánh bóng cho cấp trên, ra cái vẻ sếp của mình cũng là những tác giả. Sách để bầy. Sách đẹp cho không. Loại này càng chẳng có ma nào đọc.

Sự lưu hành của sách

Tháng 4-2011, tôi đến Văn Miếu xem một ngày gọi là hội sách. Người ta phải bán kèm sách bằng cách tổ chức các cuộc đố vui, thi lấy thưởng. Và phát sách tự do. Từ đấy mới xảy ra cái chuyện hi hữu là có người xông vào cướp sách.

Nhớ lại một chi tiết trong truyện Khổng Ất Kỷ của Lỗ Tấn. Nhà nho này có tật đi chép thuê cho nhà nào thì hay thó luôn sách của nhà đó, khi bị phát giác ông ta cãi lại một cách gọn lỏn “Ăn cắp sách không có lỗi.”

Trong giới những người ham đọc cũng có một câu ba vế như sau:

— Có sách hay mà không mang khoe là một sai lầm
–Trông thấy sách hay mà không hỏi mượn là một sai lầm lớn hơn
— Mượn được sách hay mà không thó luôn làm của mình là một sai lầm không thể tha thứ được.

Thế tức là phải thấy “có yếu tố tích cực” trong việc sách được người ta xông vào cướp. Là hay là đáng mừng chứ gì?

Không, tôi biết mấy người xông vào cướp sách lần ấy không yêu sách quý sách đến thế. Họ chỉ hăng máu làm theo người khác. Thấy xông vào ăn cướp là vui thì cũng làm theo, mình giật được cái mà người khác không giật được chẳng vui là gì. Sau khi cướp được sách có người không buồn nhìn xem cuốn sách mình cướp được là gì, chỉ thầm nghĩ có thêm ít giấy về làm việc vặt. Có người vứt luôn ngoài cổng.

Vẫn có những người đứng đắn lo viết sách như sự nghiệp đời mình. Nhưng nỗi đau khổ thường trực của họ là hiện nay là sách ra, như rơi vào khoảng không. Không được giới thiệu trên mặt báo. Không được thảo luận. Muốn gây được dư luận, nhất là phải có tiền, bạo chi. Mấy người hiện nay hội đủ những điều kiện đó?!

Việc truy lùng… đốt sách ở VN
đã xảy ra 3 lần, năm 1414, 1954 và 1975

(hoangtran204) – posted 10/5/2011 – Nước ta có hơn 4000 năm văn hiến, nhưng sách vở của ông bà tổ tiên để lại thì rất ít. Đó là một thiệt thòi to lớn nhất của người VN so với người dân của các quốc gia khác. Nguyên nhân của việc có rất ít sách xưa để lại là vì quân nhà Minh, trong những ngày đầu đô hộ nước ta thời 1414, đã ra lệnh tịch thu hết sách vở, và đốt hết để làm cho dân ta quên hết cội nguồn lịch sử, văn hóa để dễ bề cai trị.

Cũng với mục đích làm quên hết nguồn gốc để dễ bề cai trị, trong khoảng thời gian 56 năm qua, người dân nước ta đã bị giới cầm quyền VN hiện nay (tiếp tay với quân Minh và chạy theo cuộc CM Văn Hóa ở Trung Quốc 1953-1966) ra lệnh tịch thu hết sách vở và đốt sách thêm 2 lần nữa. Hai lần đốt sách nầy gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng không kém lần đốt sách thứ nhất hồi năm 1414. Đốt sách để không cho ai biết sự thật, che dấu hết các sự kiện lịch sử, và kể từ đó chủ nghĩa cộng sản hoành hành ở VN suốt hơn 60 năm qua.

Tại sao phải đốt sách? Đốt sách để che dấu những chuyện gì, những sự thật gì bất lợi cho họ.

Nguyên nhân của việc đốt sách thì có rất nhiều. Nhưng chính thức là để đảng viết lại lịch sử sao theo ý muốn, nhằm che dấu các sự kiện lịch sử quan trọng nhất và đảng thích mọi cái mà họ làm là NHẤT, là lần đầu tiên trong lịch sử…

Chính phủ đầu tiên của nước Việt Nam là do Thủ Tướng Trần Trọng Kim thành lập vào ngày 17 tháng 4, năm 1945, tuyên bố nước Việt Nam Độc Lập và thống nhất.

Nội các của chính phủ Trần Trọng Kim cũng đã được thành lập và ra mắt quốc dân vào ngày 19/4/1945 và có tên của 16 người. Lời tuyên bố Việt Nam độc lập cũng được đưa ra trong tháng 4/1945

Nói tóm lại là các sự kiện lịch sử nầy có trước ngày 23/8 và 2/9/1945 và đã làm cho ĐCSVN tức giận vô cùng. Họ thích mọi cái mà họ làm là NHẤT, là lần đầu tiên trong lịch sử… Và nếu người dân VN biết được các sự kiện lịch sử về TT Trần Trọng Kim, thì chẳng khác gì các đảng phái quốc gia đã lập công đầu! Việc nầy đã làm cho ông HCM và các nhân vật của đảng CSVN tức giận điên lên, tìm cách dìm hàng, che dấu sự thật bằng cách tịch thu hết sách vở, và đốt sách vào 1954. Để rồi kể từ đó, ai ai ở miền Bắc cũng chỉ biết: ngày 2/9/1945 là ngày tuyên ngôn độc lập, là ngày có chính phủ đầu tiên của nước VNDCCH ra đời!

Thêm 1 biến cố lịch sử nữa mà người miền Bắc thường không biết đó là hiệp định Geneve 20/7/1954. Hiệp định chia đôi đất nước chỉ có 3 phe thỏa thuận. Pháp, Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam nước VNDCCH đã ký. (Nên nhớ 1 điều là Pháp không đại diện cho miền nam VN.)

Miền Nam VN hay chính phủ VNCH Thủ tướng Ngô Đình Diệm đại diện đã không ký vào hiệp định 20/7/1954. Họ phản đối hiệp định chia đôi đất nước, nhưng không thể làm gì được vì lúc đó sức lực còn quá yếu, chính phủ của TT Diệm mới được thành lập chỉ một thời gian quá ngắn.

Sự kiện lịch sử là những gì đã xảy ra vào thời điểm ấy và không thể nói khác đi được. Các suy đoán, phiên dịch chung quanh vấn đề nầy chỉ là do tuyên truyền của đảng CSVN ở ngoài miền Bắc.

Đốt sách, viết lại lịch sử, và tìm cách tuyên truyền cho người dân hiểu sai sự thật là những gì mà nhà cầm quyền hiện nay đã và đang làm. Blogger Tô Hải, 85 tuổi, là người biết hết các sự kiện nầy. Những bài viết phanh phui sự thật của bác Tô Hải đăng trên nhiều blog và đã bị các tin-tặc phá hoại xóa sạch rất nhiều lần. Những ai từng lên mạng đều có thể biết các sự kiện lịch sử nầy bằng cách vào google.com và viết vài chữ như chính phủ Trần Trọng Kim, hay hiệp định Geneve 1954 đều có thể đọc các bài viết liên quan tới đề tài nầy.

1954 – Trích Hồi Ký Của Một Người Hà Nội (ông Nguyễn Văn Luận, bút hiệu tựdo):
“Chơi vơi trong Hà Nội, tôi đi tìm thầy xưa, bạn cũ, hầu hết đã đi Nam. Tôi phải học năm cuối cùng, Tú tài 2, cùng một số ‘lớp Chín hậu phương’, năm sau sẽ sáp nhập thành ‘hệ mười năm’. Số học sinh ‘lớp Chín’ này vào lớp không phải để học, mà là ‘tổ chức Hiệu đoàn’, nhận ‘chỉ thị của Thành đoàn’ rồi ‘phát động phong trào chống văn hóa nô dịch!’. Họ truy lùng… đốt sách! Tôi đã phải nhồi nhét đầy ba bao tải, Hiệu đoàn ‘kiểm tra’, lục lọi, từ quyển vở chép thơ, nhạc, đến tiểu thuyết và sách quý, mang ‘tập trung’ tại Thư viện phố Tràng Thi, để đốt.

Lửa cháy bập bùng mấy ngày, trong niềm ‘phấn khởi’, lời hô khẩu hiệu ‘quyết tâm’, và ‘phát biểu của bí thư Thành đoàn’: Tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn là… ‘cực kỳ phản động!’. Vào lớp học với những ‘phê bình, kiểm thảo… cảnh giác, lập trường’,

“tiêu diệt văn hóa đồi trụy Mỹ-Ngụy”, một phiên bản của quân Minh trong những ngày đầu đô hộ nước ta thời 1414, lại có phần tinh vi/hiện đại hơn.

1975 – Công tác “bình định” đầu tiên ở miền Nam vừa mới bị cưỡng chiếm là niêm phong, tịch thu sách vở của các thư viện, các nhà in, các nhà xuất bản và các nhà sách lớn (Khai Trí/Sống Mới/Độc Lập/Đồng Nai/Nam Cường/Trí Đăng…) để chuyển về Bắc. Còn đại khối nhân dân vừa mới được “giải phóng” thì được lệnh từ phường xã quận huyện thành phố: tập trung hết sách vở các loại, từ tiểu thuyết, biên khảo đến sách giáo khoa… để đốt sạch.

Thêm vào chuyện đốt sách, các tên đường ở Sài Gòn và 18 tỉnh ở miền Nam cũng đã bị thay đổi tên để quét sạch dấu tích còn sót lại, và giới thiệu lại lịch sử do…đảng viết. Trước 1975, đường phố ở miền Nam đã từng được đặt theo tên của các nhân vật lịch sử, các danh nhân văn hóa có công với đất nước kể từ thời vua Hùng Vương, Đinh, Lê, Lý, Trần, Nguyễn và các nhà lãnh đạo các cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Tàu.

Sau năm 1975, để làm cho thanh niên quên hết tên các nhân vật lịch sử, quên hết các danh nhân văn hóa, quên các hiền nhân có liên hệ tới lịch sử VN, đảng ra lệnh đổi tên các đường phố. Và kể từ đó, các đường phố ở miền Nam phần lớn đều lấy theo tên của các nhân vật theo…đảng và có công với đảng.

Mục đích của việc cấm xuất bản sách, đốt sách, thay đổi tên đường phố… là làm cho thanh niên VN quên hết cội nguồn để dễ bề cai trị và cũng là sự lập lại cách làm mà quân nhà Minh (hay nói rõ hơn là Trung Quốc) đã thực hiện ở VN cách đây gần 600 năm. Cũng đúng thôi vì từ xưa đến nay, đảng nầy đã và đang có các nhà lãnh đạo (nói đúng hơn là các thái thú) lấy tư tưởng, chính sách, đường lối cai trị xuất phát từ Trung Quốc để áp dụng vào VN.

Sách của ông Bộ Trưởng bộ Ngoại Giao Nguyễn Tường Tam (Tự Lực Văn Đoàn) sáng tác xuất bản cũng bị đốt.

Mời các bạn đọc bài Vinh Danh Nguồn Sáng của bogger Đinh Tấn Lực.

Để tang cho sách hay để tang cho người ?

T.Vấn (Lãng Tử 75) – Đó là những ngày tháng tủi hổ nhất cho lịch sử Việt nam, khi hàng ngàn thanh niên sinh viên học sinh của bên thua trận bị chính quyền mới ra lệnh vào tận những nhà sách, nhà xuất bản, cả những kệ sách tư nhân, tịch thu tòan bộ sách báo, ấn phẩm, tất cả những gì được in ấn, phát hành ở miền Nam trước tháng 4 năm 1975 đem ra đốt.


Chiến dịch “bài trừ văn hóa đồi trụy phản động” được rầm rộ
phát động tháng 5 năm 1975 trên những đường phố Sài Gòn

1. “Ông chết nhẹ nhàng như gấp lại một cuốn sách. Tính ra, ông đã để tang cho sách đúng một trăm ngày.”

Những dòng chữ “nhẹ nhàng” kết thúc “Để tang cho sách” của nhà văn Khuất Đẩu hẳn để lại một dư vị chẳng lấy gì làm nhẹ nhàng lắm cho người đọc, nhất là những người đọc đã từng sống qua những ngày tháng không dễ gì quên được kể từ khi bộ đội miền Bắc cắm lá cờ chiến thắng trên nóc phủ tổng thống miền Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Tại sao lại phải “để tang cho sách”? Vì “sách của ông tưởng sẽ sống đến ngàn năm đã bị bức tử một cách oan nghiệt”. Khi người ta đội lên đầu những quyển sách của ông, có những quyển già như một ông tiên đầu bạc, có những quyển xinh tươi như những thiếu nữ trẻ trung, những chiếc mũ có tên là “nọc độc”, là “đồi trụy”, là “phản động” thì hơn ai hết ông hiểu đó là “một lời tuyên án tử hình”.

Nhân vật người Ông của Khuất Đẩu đã chọn một giải pháp thật đẹp, đẹp hơn cả “lý tưởng của người Cộng sản” : “ông đã chọn cho mấy trăm cuốn sách một cái chết dũng cảm. Đó là chính ông tự mình đốt sách. Một quyết định cháy lòng.”

Ít nhất, nhân vật của Khuất Đẩu đã bảo tòan được “khí tiết” của sách qua cử chỉ dũng cảm của một viên tướng bại trận, tự sát chết trước khi để thân xác của mình lọt vào tay kẻ địch.

Trong thực tế, những gì đã xẩy ra ở những đô thị miền Nam sau khi người anh em cùng máu đỏ da vàng ở phía bên kia rầm rập tiến vào tay phất cao ngọn cờ của chủ nghĩa Mác-Lê bách chiến bách thắng ? – Đó là những ngày tháng tủi hổ nhất cho lịch sử Việt nam, khi hàng ngàn thanh niên sinh viên học sinh của bên thua trận bị chính quyền mới ra lệnh vào tận những nhà sách, nhà xuất bản, cả những kệ sách tư nhân, tịch thu tòan bộ sách báo, ấn phẩm, tất cả những gì được in ấn, phát hành ở miền Nam trước tháng 4 năm 1975 đem ra đốt.


Một cảnh đốt sách thật tang thương tháng 5 năm 1975 ở Sài Gòn

Nhà văn Nguyễn Thụy Long, người chứng kiến tận mắt, đã kể lại:

“ . . . Trời sáng rõ, đèn đường tắt. Cờ bay đỏ phố, đỏ nhà. Những khẩu hiệu chiến thắng giăng mắc đầy đường, tường nhà, phố chợ. Những em nhỏ mang băng tay đỏ, áo bà ba, “mốt” mang dép râu, nối vòng tay lớn nhảy múa bập bẹ hát hỏng rồi làm lại trật tự lòng lề đường. Không còn bóng dáng những tà áo dài trắng nữ sinh tha thướt nữa. Một số em khác nỗ lực truy tìm văn hóa đồi trụy. Đám trẻ xộc vào nhà người ta khuân ra ngoài lề đường từng đống sách báo. Nổi lửa đốt khói lên ngút trời.

Một ông lớn tuổi đầu hói mang kính cận dầy cộm chạy ra la giằng lại cuốn sách đóng bìa da to vĩ đại:

– Các cháu ơi cho bác xin, đây là quyển Bách Khoa Từ điển tiếng Tây. Không phải văn hóa đồi trụy.

Chú nhóc miệng còn hôi sữa giằng lại cuốn sách, ném luôn vào thùng phuy đang bốc lửa:

– Đốt hết, đốt hết, sách là đốt. Lệnh trên như vậy.

Ông già ôm mặt khóc bên lề đường. Tôi quay mặt nhìn đi chỗ khác, tôi biết ông cụ. Giáo sư đại học luật, Vũ Đăng Dung. Tiến sĩ luật công pháp quốc tế. Ông cụ ở đường bên cạnh nhà tôi, đường Đinh Công Tráng, con đường nổi tiếng bán bánh xèo. . . .”

( Nguyễn Thụy Long – Viết trên gác bút – Hồi Ký )

Ngọn lửa phần thư không chỉ cháy trên đất nước chúng ta những ngày tháng 4 năm 1975. Trước đó, nó đã bùng lên trên phố phường Hà Nội năm 1954 cũng dưới lá cờ của chủ nghĩa Mác-Lê bách chiến bách thắng :

“Chơi vơi trong Hà Nội, tôi đi tìm thầy xưa, bạn cũ, hầu hết đã đi Nam. Tôi phải học năm cuối cùng, Tú tài 2, cùng một số ‘lớp Chín hậu phương’, năm sau sẽ sáp nhập thành ‘hệ mười năm’. Số học sinh ‘lớp Chín’ này vào lớp không phải để học, mà là ‘tổ chức Hiệu đoàn’, nhận ‘chỉ thị của Thành đoàn’ rồi ‘phát động phong trào chống văn hóa nô dịch!’. Họ truy lùng… đốt sách!

Tôi đã phải nhồi nhét đầy ba bao tải, Hiệu đoàn ‘kiểm tra’, lục lọi, từ quyển vở chép thơ, nhạc, đến tiểu thuyết và sách quý, mang ‘tập trung’ tại Thư viện phố Tràng Thi, để đốt. Lửa cháy bập bùng mấy ngày, trong niềm ‘phấn khởi’, lời hô khẩu hiệu ‘quyết tâm’, và ‘phát biểu của bí thư Thành đoàn’: Tiểu thuyết của Tự Lực Văn Đoàn là… ‘cực kỳ phản động!’. Vào lớp học với những ‘phê bình, kiểm thảo… cảnh giác, lập trường”.

( Hồi Ký của một người Hà Nội- Nguyễn Văn Luận)

Lịch sử còn ghi chép và nguyền rủa cuộc “phần thư khanh nho” ( đốt sách chôn học trò ) của Tần Thủy Hòang xẩy ra từ năm 213 trước Công Nguyên.

Trong lịch sử thế giới cận đại, người ta vẫn chưa quên cuộc “tàn sát văn học” của nhà độc tài Hitler , “một kẻ chưa tốt nghiệp trung học, là kẻ ghét chữ. Ngay sau khi lên cầm quyền vào đầu năm 1933, tên trùm phát xít đã lập tức phát động một chiến dịch đốt sách rầm rộ trên toàn quốc: Kéo dài suốt từ 7/3/1933 ở Dresden cho đến 9/10/1933 ở Rendsburg, “lễ đốt sách” được tiến hành tại hơn 100 thành phố lớn nhỏ ở Đức với tất cả nghi thức “trọng thể”. Riêng tối 10/5/1933, đốt sách đồng loạt được thực hiện tại 22 trường đại học tổng hợp của Đức. Trong đó cuộc đốt sách ở ĐHTH Berlin có tới 70.000 tham gia, dưới sự giám sát trực tiếp của Bộ trưởng Tuyên truyền Joseph Goebbels, đã thiêu hủy hàng vạn cuốn sách.

“Để thực hiện chiến dịch đốt sách,thuộc hạ của Goebbels lập ra các “Danh sách đen”, liệt kê các tác giả và tác phẩm “không mang tính Đức” cần thiêu hủy, trước hết đó là những tác giả theo chủ nghĩa Marx, người Do Thái, có tư tưởng hòa bình… “Danh sách đen” được lập ở các lĩnh vực như văn học (127 tác giả); lịch sử (51); nghệ thuật (13 tác giả và công trình nghiên cứu); chính trị và quốc học (125)… Ngoài ra còn có tôn giáo, triết học, sư phạm… Trong số này có 15 tác giả được yêu cầu cần đốt sạch, “không có ngoại lệ”, như nhà triết học Karl Marx và nhà lý luận Mác-xít Karl Kautsky; nhà văn Heinrich Mann, Erich Kaestner, Erich Maria Remarque; nhà tâm lý học Sigmund Freud, hay nhà báo Kurt Tucholsky… Thậm chí sách của nhiều nhà khoa học tự nhiên cũng bị thiêu hủy,như nhà vật lý Albert Einstein. Dựa trên các danh mục này, những cuộc lục soát được tiến hành trên toàn quốc, trước hết là ở các thư viện, trường học, hiệu sách… để thu hồi và tập trung sách lại đốt trước công chúng.”
( trích : Tái sinh từ cuộc “tàn sát văn học” – Phan Đức – TT&VH )

Khi người ta có thể đốt sách được, thì việc đốt người ắt phải xẩy đến. Sự kiện hàng ngàn nhà tù (trại cải tạo) mọc lên như nấm sau mưa trên khắp đất nước những ngày ấy đã chứng minh cho điều này. Đó là những nơi sẽ chôn thây, sẽ hành hạ những thành phần ưu tú nhất của đất nước, những người góp phần làm cho những quyển sách “tội phạm” ra đời, tồn tại.

Quả là một sự phí phạm “kinh thiên động địa”.

Nhân vật người Ông của Khuất Đẩu, qua sách vở, đã nhìn thấy trước những gì sẽ xẩy ra khi đất nước lọt vào tay người Cộng sản, và ông đã chọn cách hành xử của riêng mình.

Để tang cho sách đúng một trăm ngày, ông chết theo sách.

Để tang cho sách, là để tang cho người. Không chỉ một người (ông). Mà là cả một thế hệ và những mất mát không cách nào có thể lấy lại được. Từ những quyển sách, tài sản vô giá của đất nước nay hòan tòan tuyệt bản, cho đến những chấn thương trong lòng người chủ sở hữu, tác gỉa của quyển sách, đến nỗi ân hận dày vò trong tâm hồn những người thanh niên trẻ năm 1975 tham gia vào chiến dịch đốt sách độc ác, vì sợ hãi, vì ngây thơ không hiểu hết hậu quả việc làm của mình.

2. Từ bấy đến nay, bao nhiêu nước đã chẩy dưới cầu, và lịch sử đã đi những bước ngọan mục. Ngọn cờ Mác-lê bách chiến bách thắng năm nào nay đã rũ nát trong những đống rác của lịch sử vì sự nguyền rủa của những nạn nhân, của chính những người đã từng bị lừa gạt hy sinh một đời dưới ngọn cờ độc ác ấy. Những tàn dư của nó phải thay tên đổi họ để tồn tại. Những người trẻ năm xưa trên đường phố Sài Gòn tay giương cao những biểu ngữ cổ vũ cho cuộc phần thư, nay đã già lão và tất nhiên cũng đã trưởng thành để hiểu rõ việc làm của mình ngày ấy. Họ chẳng phải là người có tội, chỉ chẳng may phải sống ở đất nước những ngày nhiễu nhương khốn khổ.

Từ những đống tro tàn, tưởng đã nguội lạnh sau ngần ấy năm, những quyển sách đã hồi sinh. Không một chế độ cầm quyền nào có thể dùng một nền văn hóa thấp mà thay thế cho nền văn hóa cao hơn, dù đó là chế độ độc tài Cộng sản. Vì thế, mặc cho kẻ chiến thắng đã từng ra mệnh lệnh phần thư vẫn còn ở ghế thống trị, những tác phẩm văn hóa văn học miền Nam đang chứng tỏ giá trị ưu thắng của mình bằng sự tái sinh mạnh mẽ.

Trước hết, nhờ sự nuôi dưỡng của lòng dân. Từ những tủ sách tư nhân được che giấu bằng mọi phương cách, từ những mánh lới moi móc, tìm kiếm của người buôn sách cũ, rất nhiều những tác phẩm cũ đã được bảo tồn. Và giờ đây, nhờ những phương tiện khoa học kỹ thuật, nhờ Internet, chúng đã có mặt trên tòan thế giới, kể cả Việt Nam, kể cả miền Bắc , hiện hữu trong mọi tủ sách gia đình, dưới dạng sách in hay ấn bản điện tử. Những cái tên tác giả miền Nam trước 1975, dù còn sống hay đã chết, đã trở nên quen thuộc với nhiều người đọc trẻ sinh sau cuộc chiến ở cả hai miền đất nước.

Những nỗ lực tuyệt vọng của giới cầm quyền hòng bóp nghẹt sự tái sinh ấy vẫn không thể ngăn chặn nổi sức sống mãnh liệt của những giá trị văn hóa đích thực, những giá trị vượt hẳn lên trên mọi ý thức hệ chính trị nhất thời để trở thành kho tàng văn hóa của dân tộc.

Năm 2008, ở Đức, trung tâm Moses Mendelssohn thuộc trường đại học Postdam đã thành lập “Thư Viện những quyển sách bị đốt” nhằm sưu tập, in ấn, phát hành trên tòan nước Đức những tác phẩm văn hóa giá trị đã bị thiêu hủy bời chế độc Phát Xít Hitler năm 1933. Ngòai sự ủng hộ tài chánh của nhiều quỹ, nhiều cơ quan tư nhân, trung tâm Moses Mendelssohn còn nhận được sự tài trợ chính thức từ chính phủ Đức với ngân khỏan hơn hai triệu Euros.

“Thư viện những quyển sách bị đốt” sau cuộc phần thư năm 1954 ở miền Bắc, năm 1975 ở miền Nam, tuy không được chính thức thành lập và thực hiện, nhưng trong thực tế, nó đã tồn tại từ nhiều năm nay, và mỗi ngày đang trở nên lớn mạnh. Ngày nay, người đọc ở khắp nơi trên thế giới, kể cả ở Việt Nam, sẽ không khó khăn gì khi muốn sưu tập tòan bộ những tác phẩm của Tự Lực Văn Đòan, của những nhà văn tiền chiến ( dù nhiều tác giả sinh sống ở miền Bắc trước 1975 đã bị buộc phải chối bỏ chính tác phẩm của mình ), những tác phẩm giá trị và nổi bật của miền Nam trước 1975 phong phú ở mọi thể lọai, trường phái… Hàng trăm những thư viện sách cung cấp miễn phí cho người đọc hiện hữu trong thế giới ảo, đa dạng từ đầu sách, nội dung sách cho đến hình thức thể hiện sách để bất cứ người đọc nào với những phần mềm máy tính khác nhau, nếu muốn, cũng có thể mở ra đọc, hoặc đem về máy nhà cất giữ dành đọc khi thuận tiện.

Chưa bao giờ người thụ hưởng văn hóa lại được có cơ hội lựa chọn phong phú như hiện nay. Chưa bao giờ cuộc cạnh tranh giữa cái giá trị và không giá trị trong văn hóa lại sòng phẳng như hiện nay. Trong bối cảnh đó, sự tái sinh của văn hóa miền Nam, của những quyển sách nạn nhân của cuộc phần thư đầy xấu hổ năm nào trên đất nước chúng ta, là điều tất nhiên mà không một thế lực nào có thể ngăn cản hay làm chậm lại.

Và chúng ta đã có thể làm lễ mãn tang cho những tác giả của những tác phẩm bị đốt, nay chẳng may không còn sống để nhìn thấy những đứa con của mình sống lại. Tôi tin rằng linh hồn họ sẽ thanh thản siêu thóat .

3. Dầu vậy, tôi vẫn không quên những hũ tro sách của nhân vật người Ông trong “Để tang cho sách” của Khuất Đẩu. Tôi cho rằng, nếu nhân vật người Ông sống tới ngày hôm nay, được chứng kiến sự hồi sinh của những quyển sách mà ông nâng niu như máu thịt, thì hẳn ông cũng vẫn chưa hài lòng trọn vẹn. Bởi vì, những quyển sách phải cụ thể là những trang giấy thơm mùi mực, hay thơm mùi cũ kỹ của thời gian, phải sờ được, phải cầm được, phải được trân trọng khẽ khàng xếp chúng vào tủ để ngày ngày ra vô nhìn ngắm, chiêm ngưỡng. Có thế mới thực sự là sách. Có thế thì kẻ hậu sinh vài chục năm sau, vài trăm năm sau, cầm tới quyển sách ố vàng vì thời gian, những mép trang đã quăn lại, biến màu vì dấu tay tiền nhân, mới cảm nhận được trọn vẹn giá trị gia tài quý báu mình đang thừa hưởng.

Có thế, sách mới thực sự như người.
Còn như, những trang sách điện tử …

Vì thế, hồn sách vẫn còn trong những hũ tro với bài vị là tờ giấy ghi tên sách trong ngăn tủ mà 30 năm sau vẫn còn được nhang khói mỗi khi giỗ chạp.

Hồn người (ông) thì có thể siêu thóat, nhưng hồn sách có lẽ vẫn mãi còn “lãng đãng” quấn quýt. Cho đến ngày những kẻ ra bản án tử hình sách năm nào đền tội nơi chín tầng địa ngục của Diêm Vương.

Chú thích: (mời xem theo link)

Advertisements

Leave a comment

Filed under Uncategorized

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s