Sự đan xen và phụ thuộc giữa khái niệm tự do và dân chủ

Hoàng Việt Quốc (Áo-Trắng-ơi!) Theo Thông Luận – Ngày nay, nền tảng của các nước dân chủ trên thế giới là một kết quả của sự kết hợp giữa tự do (liberal) và dân chủ (democracy). Đây chính là nền dân chủ mà đa số mọi người đều hiểu. Để hiểu rõ lý do có sự đan xen giữa hai giá trị tự do và dân chủ trước hết chúng ta cần nắm vững một cách chính xác hai khái niệm này và những thay đổi của chúng qua thời gian.

“…Trong một quốc gia đặt trên nền tảng giá trị tự do, nhiệm vụ của nhà nước là bảo vệ các quyền tự do căn bản của công dân, ngăn chặn sự áp đặt ách cai trị của một thành phần lên các thành phần khác và thể hiện sự đồng thuận của quốc gia. Dân chủ là một thể chế chính trị ở đó mọi công dân là nguồn gốc của quyền lực…”

Khái niệm tự do (liberal)

Tự do (liberal) chính là sự tự do trong cuộc sống của mỗi cá nhân. Giá trị tự do chú trọng việc giới hạn quyền lực của chính phủ đến mức tối thiểu. Việc giới hạn quyền lực của nhà nước được thiết lập bởi luật pháp, hiến pháp và trên hết chính là sự khẳng đình các quyền tự do căn bản của mỗi con người. Chính những quyền căn bản của mỗi con người (còn gọi là nhân quyền) đã xây dựng nên nền tảng cho giá trị tự do. Những quyền tự do căn bản chính là chìa khóa dẫn đến sự ổn định chính trị, đó là sự bảo đảm về tính đa nguyên trong xã hội, các khuynh hướng chính trị khác nhau, và sự khác nhau trong cách mưu cầu hạnh phúc của mỗi con người trong xã hội.

Những người ủng hô giá trị tự do luôn muốn giới hạn hoạt động và sự can thiệp của nhà nước vào xã hội. Xã hội tự nó đã là một tổ chức. Các hoạt động và tổ chức xã hội bao gồm việc trao đổi kinh tế, các tổ chức dân sự, gia đình và đời tư của mõi cá nhân sẽ phát triển một cách tốt nhất nếu không có sự can thiệp từ nhà nước. Giá trị tư do khẳng định rằng mỗi cá nhân luôn có quyền đưa ra những lựa chon cho riêng mình, trong mọi vấn đề như là tín ngưỡng, kinh tế hoặc là hoạt động chính trị. Một đặc điểm quan trọng của các nước đặt nền tảng trên giá trị tư do là một nền kinh tế thị trường lấy sức mạnh tư nhân làm nguồn lực và quyền tư hữu là quyền tư nhiên mà không thể bị tước bỏ. Và những hoạt động của nhà nước chỉ nên xoay quanh việc bảo vệ các quyền tự do căn bản của người dân (quyền được sống, quyền mưu cầu hạnh phúc và quyền sở hữu tài sản). Theo cách này, mọi nguồn lực của một quốc gia sẽ được bảo vệ một cách tối đa và mỗi cá nhân sẽ được phát huy hết khả năng của mình để cống hiến cho phúc lợi của xã hội.

Giá trị tư do bản thân nó cũng tự khẳng định rằng quyền lực nhà nước không được dựa trên bất cứ một sức mạnh thần quyền hay chủ thuyết nào mà phải dựa trên sự đồng thuận của nhân dân. Chính điều này là tiền đề cho sự ra đời của khái niệm dân chủ. Để bảo đảm được giá trị tự do thì các cá nhân trong xã hội phải có quyền tham gia hoạt động chính trị (tham gia vào hoạt động chính phủ ở các cấp, gây sự ảnh hưởng lên các chính sách ban hành bởi chính phủ). Giá trị tư do đã được khẳng định và công nhận trong điều 21 của tuyên ngôn quốc tế nhân quyền “Công dân có quyền tham gia vào các hoạt động của chính quyền một cách trực tiếp hoặc bằng cách bầu lên đại diện cho mình”. Do các cá nhân trong xã hội đều có quyền gân ảnh hưởng lên chính quyền nên những hoạt động của chính quyền sẽ luôn dựa trên sự đồng thuận của tất cả công dân. Trong một quốc gia gắn liền với các giá trị tự do, người dân thể hiện quyên lực và quyển làm chủ bàng cách bày tỏ quan điểm của mình, tìm kiếm sự đồng thuận từ các thành phần khác trong đất nước và yêu cầu chính phủ thực hiện đúng nguyện vọng của họ. Như vậy trong một thể chế dân chủ, nhà nước chính là công cụ thể hiện sự đồng thuận của một quốc gia. Ở đó, xã hội sẽ không chế nhà nước.

Giá trị tư do cũng đã chỉ ra rằng không ai có quyền tước đi các quyền tự do của người khác và không một thành phần xã hội nào có thể đe dọa hay đặt ách cai tri lên các thành phần khác. Tổ chức xã hội phải dựa trên sự đồng thuận của mọi người. Trong tác phẩm “Second Treaties of Government”, John Locke cũng đã khẳng định rằng “một đất nước tự do phải là một đất nước của sự công bằng, nơi mà mọi công dân đều có quyền hạn ngang bằng nhau; Tạo Hóa đã ban cho con người những quyền của tư nhiên mà không thể nào bị tước bỏ; mỗi cá nhân đều được sử dụng các quyền này theo ý của mình mà không sợ sự tước bỏ hay đe dọa từ các các thành phần khác.”

Như vậy, nhờ giá trị tự do (liberal), tất cả thành phần trong xã hội đều có những quyền căn bản tự nhiên không thể nào phủ nhận và có chỗ đứng ngang nhau. Nhà nước bản thân được sinh ra từ sự đồng thuận của tất cả công dân của cả nước và công việc chính của nhà nước là bảo vệ các quyền tự do căn bản của công dân. Và mọi người đều có quyền thực thi các quyền căn bản mà không sợ sự đe dọa từ các thành phần khác.

Khái niệm dân chủ (democracy)

Dân chủ chính là một thể chế chính trị của một quốc gia trong đó nguồn gốc của quyền lực đến từ tất cả người dân của quốc gia đó. Dân chủ là thể chế chính trị hoàn toàn đối ngược lại với các thể chế độc tài (độc tài toàn trị, độc tài đảng trị hoặc là độc tài cá nhân).

Sự hiểu biết về thể chế dân chủ chưa bao giờ là một sự hiểu biết tuyệt đối. Nó đã thay đổi theo thời gian do sự thay đổi về xã hội, kinh tế và chính trị. Vào thế kỷ thứ 4 trước CN một nền dân chủ đã ra đời và phát triển cưc kỳ thịnh vượng đó là nhà nước Athens. Nền chính trị của nhà nước Athens là một nền dân chủ trực tiếp. Ở đó người dân không bầu các đại diện của nhân dân mà họ bầu trực tiếp các đạo luật về hành pháp và lập pháp.

Nhưng sau này, trên đà gia tăng dân số, tổ chức xã hội ngày càng phức tạp hơn và nhiều thành phần xã hội mới xuất hiện nên các quốc gia hiện hữu ngày nay không thể nào áp dụng nền dân chủ trực tiếp. Và sự ra đời của một nền dân chủ gián tiếp là xu hướng tất yếu. Ở đó, người dân bầu lên các đại diện nhân dân, người đứng đầu quốc gia, người đứng đầu chính phủ và các công chức nhà nước từ cấp trung ương đến địa phương. Mọi công dân trong một quốc gia đều có quyền bầu cử khi đã đủ độ tuổi đi bầu. Tác giả của tờ báoFederalist đã ủng hộ tính thiết thực của một nền cộng hòa (một kiểu dân chủ gián tiếp). Trong tờ số 63, James Madison đã viết rằng sự khác biệt giữa các nền dân chủ thời cổ đại và nền chính trị Hoa Kỳ nằm ở chỗ nền chính trị Hoa Kỳ không cho phép sự ảnh hưởng trực tiếp đến các chính sách lập pháp và hành pháp từ mọi công dân. Như vậy, người dân không được trực tiếp tham gia việc thông qua các chính sách của nhà nước. Theo cách này, các xáo trộn về chính trị sẽ ít có khả năng xảy ra, nhất là các giá trị tự do và quyền căn bản của mỗi cá nhân sẽ không bị ảnh hưởng, dù là một sự áp chế của đa số. Như vậy, trong một nền dân chủ gián tiếp, thì bầu cử chính là thể hiện quyền làm chủ của công dân.

Sự đan xen giữa tự do và dân chủ trong một đất nước dân chủ

Sự phụ thuộc vào nhau giữa một thể chế dân chủ và các giá trị tư do đã được chứng minh qua tiến trình lịch sử. Các quốc gia cổ đại tuy được đặt nền tảng trên một thể chế dân chủ nhưng hoàn toàn thiếu đi những giá trị phổ quát của con người. Ví dụ, trong nền dân chủ Athens, quyền công dân dung để chỉ một nhóm người chứ không phải là một khái niệm phổ quát. Ước tính có khoảng 400.000 người dân Athens. Tuy nhiên, quyền công dân chỉ thuộc 1/10 dân số của nước Athens. “Đa số các công dân là nông dân hoặc thợ thủ công”. Ba (3) tầng lớp không được công nhận là công dân là phụ nữ, thợ thủ công và nô lệ. Người dân Athens thường qua niệm rằng “phụ nữ là những người có tư duy kém và không thể tham gia vào các phiên thảo luận về chính trị trong thành bang, suy nghĩ của họ dễ dẫn đến bế tắc”. Do vậy, phụ nữ sẽ bị gạt khỏi việc quyết định các chính sách của quốc gia. Dân nhập cư thì phải thường xuyên đóng các khoản thuế bất thường và họ bị bắt buộc thực hiện các nghĩa vụ quân sự và rất hiếm trường hợp dân nhập cư được phép trở thành công dân của nước Athens. Còn nô lệ được xem như là tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội Athens. “Đa số là các tù binh chiến tranh, một số khác, do cuộc sống túng thiếu hoặc bị vỡ nợ, họ buộc phải trở thành món hàng”. Họ bị xem như một món hàng được sở hữu hay chỉ là những dụng cụ lao động. Do vậy nền dân chủ trực tiếp vào thời kỷ cổ đại không dựa trên các quyền tư do căn bản do Tạo Hóa ban tặng cho con người.

Trong chiều ngược lại, ngay cả các nền dân chủ hiện đại trong quá khứ đã từng tước đi quyền bầu cử của người nghèo và phụ nữ và các thành phần khác trong xã hội. Nói theo một cách khác, trong giai đoạn này tuy thể chế chính trị của các quốc gia này vẫn đặt nền tảng trên giá trị tự do bằng cách cam kết bảo vệ những quyền tự do căn bản của công dân nhưng lại thiếu đi yếu tố dân chủ một cách trầm trọng vì quyền bầu cử được giới hạn vào một nhóm người trong xã hội dựa trên giới tính, sắc tộc, số lượng tài sản, trình độ tri thức… Nhưng qua thời gian, tiến trình dân chủ hóa là một tiến trình tất yếu của nhân loại. Khi dân trí của người dân ngày càng đi lên và đời sống kinh tế càng ngày càng được cải thiện thì mọi thành phần trong xã hội, trước đây bị từ chối quyền bầu cử, cũng đã đứng lên đòi quyền lợi, cụ thể là quyền được bầu cử. Ví dụ, cho tới TK 19, dù Anh Quốc đã có được một chế độ quân chủ lập hiến (đã khẳng định được các giá trị tự do của mọi công dân) nhưng quyền bầu cử bị giới hạn vào một nhóm người quý tộc. Về sau, tiến trình dân chủ hóa đã mở rộng quyền bầu cử cho mọi thành phần và mọi công dân trên toàn đảo quốc sương mù này. Một ví dụ điển hình khác là Hoa Kỳ. Mặc dù bảng tuyên ngôn độc lập Hòa Kỳ viết bởi Thomas Jefferson đã tuyên bố rất rõ rằng “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”và 10 tu chính án đầu tiên soạn thảo bởi James Madison trong bản Hiến Pháp của Hòa Kỳ cũng đã khẳng định những quyền bất khả xâm phạm của mọi cá nhân nhưng quyền bầu cử vẫn chỉ giới hạn trong nam giới và những thành phần tri thức và có một khối lượng tài sản nhất định. Tuy nhiên,phong trào đòi quyền bầu cử của phụ nữ đã nổ ra vào cuối TK 19 và đầu TK 20 đã dẫn đến tu chínhán số 19 trong Hiến Pháp Hoa kỳ khẳng định rằng quyền bầu cử của mọi công dân là quyền không thể bị tước đoạt dựa trên sự khác biệt về giới tính. Trong giai đoạn 1954-1968, phong trào chống lại chính sách phân biệt chủng tộc và đòi quyền bầu cử của người da màu bùng nổ. Và kết quả là sự ra đời của các dự luật Civil Rights Act of 1964, Voting Right Act of 1965, Immigration and Nationality Act of 1965, Voting Right Act of 1965. Các dự luật này đều có đặc điểm chung là nghiêm cấm các hành động phân biệt đối xử dựa trên giới tính và sắc tộc và khẳng định quyền bầu cử của những người da màu.

Chính các phong trào đòi quyền bầu cử đã mở rộng quá trình dân chủ hóa lên toàn cầu. Quyền bầu cử ngày nay tại các nước dân chủ là quyền của mọi công dân và là sự khẳng định quyền lực của người dân. Tiến trình dân chủ hóa đã giúp các giá trị tự do đã trở thành những giá trị phổ quát của con người. Chỉ khi nào tất cả mọi thành phần trong xã hội có được quyền bầu cử và được khẳng định các quyền tự do căn bản thì nhà nước mới được xem là sự đồng thuận của một quốc gia.

Một quốc gia được xem là dân chủ và đặt trên nền tảng các giá trị tư do khi quốc gia đó đáp ứng đủ 7 điều kiện sau:

1. Sự đồng thuận của một quốc gia được thể hiện bằng cách người dân có quyền bầu lên các viên chức nhà nước từ cấp trung ương cho đến địa phương

2. Việc bầu cử phải tự do và công bằng: không một đảng phái hay tổ chức nào có quyền thao túng nhà nước bằng vũ lực

3. Mọi công dân khi tới tuổi trưởng thành phải được quyền bầu cử

4. Quyền được ứng cử vào các vị trí và chức vụ trong chính phủ: Mọi công dân khi tới độ tuổi trưởng thành có quyền ứng cử vào các chức vụ trong chính phủ dù độ tuổi yêu cầu có thể bị giới hạn, tùy theo chức vụ.

5. Quyền được bày tỏ ý chính kiến: Mọi công dân đều có quyền nêu ra các khuynh hướng chính trị bao gồm việc phê phán các viên chức, chính phủ, tình hình kinh tế hoặc là trình bày một hệ tư tưởng chính trị khác nhau. Việc bày tỏ quan điểm chính trị không được vấp phải sự trả thù từ nhà nước hoặc các thành phần nào khác trong xã hội

6. Quyền được tự do thông tin: Công dân có quyền tiếp cận với các thông tin đa chiều và từ nhiều nguồn khác nhau. Và quyền tự do thông tin là một quyền hiến định và phải được luật pháp bảo vệ

7. Quyền được liên kết và tự do lập hội: Mọi công dân có quyền tự do liên kết, tự do thành lập các đảng phái chính trị, các tổ chức xã hội dân sự độc lập.

.
Khi một quốc gia đã đạt được 7 điều kiện trên, có thể nói quốc gia này đã có được một nền dân chủ với các giá trị tự do một cách tương đối. Đây chính là một nền dân chủ điển hình của thế giới hiện đại. Bảy (7) điều kiện trên đã cấu thành 3 yếu tố quan trọng trong một nền dân chủ điển hình. Như vậy một nền dân chủ gắn với các giá trị tư do sẽ có là một thể chế chính trị với các đặc tính như sau:

1. Sự cạnh tranh giữa các đảng phái chính trị trong việc lãnh đạo đất nước (thông qua bầu cử, các chính sách, truyền thông hoặc là sự chất vấn giữa các đảng phái) và việc sử dụng vũ lực là điều cần phải bác bỏ.

2. Việc bầu cử phải được tiến hành thường xuyên để đảm bảo sự tham gia hoạt động chính trị của mọi công dân. Quyền tham gia hoạt động chính trị và quyền bầu cử thuộc về những quyền căn bản của mọi công dân và mọi thành phần xã hội.

3. Các quyền tự do căn bản thuộc trên phương diễn xã hội và chính trị là những quyền không thể nào bị tước bỏ (quyền bảy tỏ chính kiến, quyền tự do thông tin, tự do báo chí, tự do liên kết và tự do lập hội). Và các quyền cũng nhằm để bảo vệ tính cạnh tranh trong chính trị và việc tham gia hoạt động chính trị của mọi công dân.

.
Như vậy, sự đan xen phụ thuộc vào nhau giữa dân chủ (democracy) và tự do (liberal) là điều tất yếu của tiến trình lịch sử, là nền tảng của một quốc gia dân chủ. Giá trị tư do chính là sự khẳng định của những quyền căn bản của con người và những quyền này là những quyền không thể nào tước bỏ bởi nhà nước hoạc bởi bất kỳ thành phần nào trong xã hội. Và mọi cá nhân đều có chỗ đứng ngang nhau trong xã hội và nhà nước chính là thể hiện sự đồng thuận của mọi công dân trong một quốc gia. Trong một quốc gia đặt trên nền tảng giá trị tự do thì nhiệm vụ của nhà nước là bảo vệ các quyền tự do căn bản của công dân, ngăn chặn sự áp đặt ách cai trị của một thành phần lên các thành phần khác và bảo đảm việc thể hiện sự đồng thuận của quốc gia. Dân chủ là một thể chế chính trị ở đó mọi công dân là nguồn gốc của quyền lực. Mặc dù sự hiểu biết về một thể chế dân chủ được thay đổi theo thời gian, nhưng mục tiêu của thể chế dân chủ là khẳng định quyền làm chủ của người dân thông qua hình thức bầu các chính sách của nhà nước (dân chủ trực tiếp thời cổ đại) hoặc là quyền tự do bầu cử của mọi công dân (hình thức dân chủ giáng tiếp trong các nền dân chủ hiện đại). Tiến trình dân chủ hóa đã mang đến quyền bầu cử cho mọi công dân trong các quốc gia dân chủ ngày nay và giúp giá trị tư do thành giá trị phổ quát của con người. Như vậy, chúng ta có thể kết luận rằng dân chủ (democracy) và tự do (liberal) chính là nền tảng cấu thành một thể chế dân chủ điển hình trong thế giới hiện đại ngày nay.

Tài liệu tham khảo:

1- Democracy and Democratization viết bởi Georg Sorensen

2-Bài nghiên cứu Liberalism and Democracy Cant Have One Without the Other của Marc F. Plattner 

3-  Nền dân chủ Athens (blog Anh Ba Sàm)

 

Advertisements

Leave a comment

Filed under Uncategorized

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s