Tác hại của việc bắt học sinh học thuộc lòng

FB Bùi Việt Hà – Tôi sẽ bắt đầu viết về vấn đề đầu tiên, B1, trong các vấn đề cụ thể của GD Việt Nam liên quan đến việc truyền đạt kiến thức trong nhà trường VN hiện nay: Tác hại của việc bắt HS học thuộc lòng, coi học thuộc lòng là một yêu cầu của truyền đạt kiến thức.

Hiện nay trong hầu hết các khối lớp và môn học trong nhà trường phổ thông việc GV yêu cầu HS học thuộc lòng coi như 1 yêu cầu của kiểm tra kiến thức diễn ra ở khắp mọi nơi. Mặc dù Bộ GD và chắc nhiều Sở GD đã khuyến cáo không cần như vậy nhưng việc này vẫn rất phổ biến. Nhắc thêm là việc bắt HS học thuộc lòng các ý, kết luận, nhận xét, đánh giá theo SGK không chỉ có ở các môn XH, mà ở các môn tự nhiên như Sinh vật, Hóa học, Vật lý việc bắt học thuộc lòng cũng diễn ra hầu khắp. Có những câu nói rất tự nhiên mà ta không để ý, hình như nó ăn sâu vào suy nghĩ của mỗi người. Ví dụ khi hỏi con, cháu về học bài ta thường hỏi “đã thuộc bài chưa?”, tức là ý muốn hỏi là đã “thuộc lòng” chưa.

1. Trước tiên nói 1 chút về quá trình nhận thức của mỗi con người. Khi tiếp cận với 1 kiến thức mới, quá trình học, tiếp thu sẽ diễn ra theo các bước, “mức” như sau, có thể tạm qui về 4 mức:

(1) Nhận biết.

Nhận ra và phân biệt được đó là 1 điều mới. Để cảm nhận được 1 thông tin mới là điều không khó trong quá trình truyền đạt kiến thức. Tất nhiên kiến thức đó phải phù hợp với ngôn ngữ và tư duy của HS. Khi nhận biết ra 1 vấn đề không yêu cầu HS nhớ ngay, thông tin có trong đầu đứa trẻ có thể bị quên ngay, nhưng nếu lúc nào đó gặp lại, HS sẽ nhớ ra.

(2) Hiểu.

Cảm nhận và hiểu những logic, quan hệ, đánh giá, suy luận của vấn đề, kiến thức được truyền đạt.

Sự “hiểu” ở mức này rất khó định nghĩa chính xác và thực tế là rất đa dạng tùy thuộc vào kiến thức. Khi giảng dạy 1 kiến thức, không dễ dàng để HS có thể hiểu ngay được vấn đề. Việc “hiểu này” cần được luyện tập sau đó bằng nhiều cách thông qua luyện tập, ôn tập, … Tóm lại không có định nghĩa chính xác cho khái niệm “hiểu” này. Phải mất nhiều thời gian thì HS mới có thể vượt qua được trạng thái “hiểu” này.

Như vậy quá trình để HS “hiểu” được 1 vấn đề là không dễ và đơn giản. Tuy nhiên có thể kiểm tra trạng thái “hiểu” bằng cách cho HS trình bày lại hoặc làm 1 bài luyện nhỏ của kiến thức với điều kiện cho HS này tham khảo SGK, tham khảo kiến thức bên ngoài và HS tự làm được, hay tự trình bày được.

(3) Nhận thức sau hiểu.

Một khi đã hiểu dù chỉ ở mức thấp, HS sẽ tiến thêm 1 bước của sự hiểu nếu có thêm tác động của GV hoặc tự bản thân, sau đây là liệt kê các yếu tố sau hiểu:

+ Thấy lạ lẫm, thấy hay
+ Tò mò
+ Thích thú.
+ Yêu thích
+ Muốn xem lại, làm lại.
+ Hay suy nghĩ về điều này
+ Thuần thục.
+ Say sưa.

Có thể kể thêm nhiều yếu tố nữa nhưng nhận thức sau hiểu lại là 1 quá trình học tập, rèn luyện nhiều hơn nữa. Cùng 1 kiến thức, các em có thể tiếp thu theo cách nghĩ khác nhau. Ví dụ học về lịch sử thành thị Châu Âu, có em thích nước Pháp, có em thích nước Anh, … tóm lại rất đa dạng.

Trạng thái “sau hiểu” này khá đa dạng và không giống nhau ở mỗi HS. Mỗi em, tùy thuộc vào tư duy, ý thích, hoàn cảnh, khả năng của mình sẽ thể hiện trạng thái “sau hiểu” này khác nhau.

(4) Hiểu sâu sắc vấn đề.

Ở mức cuối cùng này HS đã hiểu rất sâu vấn đề, cảm thấy say mê thích thú, có thể đọc sách, làm bài tập, thực hành hàng giờ không thấy mệt. Khi đã rất hiểu, hiểu sâu sắc vấn đề thì các trạng thái nhận thức môn học của HS này sẽ có thể như sau:

– Say mê, đam mê, có thể suốt ngày nghĩ về môn học hay kiến thức này.
– Tìm hiểu đọc thêm, làm bài tập thêm nâng cao.
– Tìm hiểu ứng dụng, có khả năng ứng dụng thực tế.
– Sáng tạo, tìm tòi những điều mới xung quanh các kiến thức này.

Chỉ ở mức hiểu sâu sắc như vậy thì HS sẽ tự nhiên “thuộc lòng” kiến thức, có thể gấp sách lại và nói hoặc viết làu làu. Ở mức hiểu biết này HS đạt độ cực đại của kết quả truyền đạt kiến thức của GV.

Mô hình nhận thức kiến thức có thể mô tả trong sơ đồ sau:

2. Bây giờ chúng ta quay lại việc GV bắt HS học thuộc lòng 1 kiến thức nào đó trong SGK và coi đó tiêu chuẩn của việc hiểu bài. So sánh lại với phân tích trên chúng ta sẽ thấy ngay mức độ vô lý, sai trái và phản GD như thế nào khi bắt học thuộc lòng như vậy.

Khi yêu cầu HS đọc làu làu theo SGK, GV đã ép HS bỏ qua tất cả các bước 1, 2, 3 và nhảy ngay vào bước 4. Điều này là SAI HOÀN TOÀN. HS đó có thể ngồi cặm cụi học thuộc lòng, hôm sau trả lời đúng theo yêu cầu của GV, đạt điểm giỏi. Nhưng thực chất HS này chưa qua nổi bước (1) ở trên vì đến hôm sau HS này sẽ quên tất cả. Như vậy việc bắt HS học như vậy thực chất sẽ hoàn toàn không đạt yêu cầu, thậm chí ZERO.

Hiện nay việc bắt HS học thuộc lòng diễn ra khắp tất cả các môn học trong trường phổ thông (chắc trừ môn Toán), HS sẽ học như vậy trước các kỳ kiểm tra 1 tiết, kiểm tra giữa HK, kiểm tra cuối HK, kiểm tra cuối năm. Gánh nặng học thuộc lòng sẽ làm HS rất mệt mỏi và vô cùng chán nản vì HS để học thuộc lòng sẽ bỏ qua tất cả các bước (1) (2) (3) nêu trên.

Nhìn lại toàn bộ nền GD của chúng ta, theo tôi 1 nguyên nhân rất lớn của chất lượng GD xuống thấp chính là câu chuyện “học thuộc lòng” này.

Tóm lại trả lời cho câu hỏi của hôm nay chúng ta đi đến kết luận là việc bắt học sinh học thuộc là vô cùng phản giáo dục, chỉ có hại không có lợi và cần phải chấm dứt ngay.

Thật ra các tác hại này ngành GD cũng biết, nhiều GV biết, gia đình, cha mẹ HS biết, nhưng chưa biết làm thế nào để tránh được tận gốc vấn đề này

Có rất nhiều cách để tránh điều này. Đó là vấn đề tôi sẽ viết trong bài viết tiếp theo.

P/S:

1. Bài viết này không nói về phương pháp học thuộc lòng, mà chỉ phân tích về cái sai của việc coi học thuộc lòng như 1 yêu cầu bắt buộc đánh giá của quá trình truyền đạt kiến thức; không hoàn toàn phản đối phương pháp học thuộc lòng vì nhiều kiến thức thực tế muốn hiểu được cần học thuộc lòng, mà chỉ nói về chuyện nếu coi HTL là 1 yêu cầu chính của truyền đạt kiến thức thì sẽ sai. Hiện nay tình trạng bắt HS học thuộc lòng một cách vô thức, hay còn gọi là học vẹt, rất phổ biến trong các nhà trường VN. 

2. Vấn đề “HTL” được nêu trong bài này chỉ là 1 vấn đề trong số các vấn đề của ngành GD trong việc truyền đạt kiến thức mà tôi đã viết trong Notes sau:

Các vấn đề lớn của GD Việt Nam hiện nay

FB Bùi Việt Hà – Tôi xin viết lại một số vấn đề chính bất cập hiện nay của ngành GD. Các điều này tôi đã viết từ lâu nay liệt kê lại và sẽ lại bắt đầu quá trình phân tích này từ đầu.

A. Các vấn đề chung, lớn 

1. Vấn đề lương và thu nhập GV: lương thấp không đủ sống chỉ tạo điều kiện cho tiêu cực của giáo viên.

2. Cách dạy kiểm tra kiến thức thụ động, nhồi nhét tạo căng thẳng cho HS và đưa chất lượng giáo dục ngày càng xuống thấp.

3. Quản lý giáo dục các cấp xơ cứng, độc đoán: gây căng thẳng giáo viên và tạo điều kiện cho tiêu cực, mua ghế, mua bằng cấp.

4. Các kỳ thi căng thẳng (thi vào 10, thi THPT, thi ĐH-CĐ) tạo ra sức ép ghê gớm và tốn kém cho toàn xã hội.

5. Áp đặt quá nhiều các mục tiêu chính trị vào giáo dục.

6. Bất công lớn giữa các trường công và tư thục. Quan niệm về xã hội hóa GD không đúng.

7. Vấn đề đào tạo giáo viên: rất bất cập.

8. Luật và qui chế cho các trường ĐH ngoài công lập: bất công, không công bằng.

9. Vấn đề bằng cấp và quan niệm về đào tạo, sử dụng bằng cấp, chức danh: lệch lạc, sai mục đích, ý nghĩa.

10. Vấn đề đào tạo nghề và phân hóa HS sau phổ thông: yếu kém, thất bại toàn diện.

B. Các vấn đề cụ thể trong mục tiêu giáo dục kiến thức hiện nay 

1. Tác hại của việc bắt HS học thuộc lòng, coi học thuộc lòng là một yêu cầu của truyền đạt kiến thức.

2. Cách quản lý học và dạy như hiện nay không hiệu quá, thậm chí phát sinh tiêu cực. Cần thay đổi lại tận gốc vấn đề này.

3. Môn Văn: chương trình quá nặng, vượt xa khả năng và yêu cầu của HS trong khi không rèn kỹ năng đọc, hiểu, viết đơn giản đúng ngữ pháp.

4. Môn Sử: áp đặt xơ cứng và định hướng chính trị quá nhiều làm cho môn học này trở thành nỗi sợ của HS (đáng lẽ phải là môn học hấp dẫn nhất).

5. Các môn KHXH khác: xơ cứng, học thuộc lòng, không cho phép HS mở rộng ngoài SGK.

6. Môn Toán: do áp lực thi 10 và thi ĐH, hiện nay ngành GD đang biến tất cả HS của Việt Nam đều là HS chuyên toán.

7. Các môn Lý, Hóa, Sinh: Các môn học này ít vấn đề hơn ngoại trừ việc bắt HS làm quá nhiều các dạng bài tập số hóa thay cho phần thực hành và áp dụng thực tế. Cần có những thay đổi theo hướng ứng dụng thực tế.

8. Về tổng thể: các vấn đề chính bắt đầu nảy sinh từ cấp THCS, nặng lên ở cấp THPT. Khối u nằm ở 2 kỳ thi: thi vào 10 và thi vào ĐH.

9. Tác hại của việc học thêm, dạy thêm và ảnh hưởng đến vấn đề truyền đạt kiến thức.

10. Vấn đề mấu chốt nhất: sự tự chủ của GV trên lớp đang bị hạn chế bởi các cơ chế quản lý nhiều tầng tầng lớp lớp hiện nay của ngành GD và toàn bộ hệ thống quản lý NN của Việt Nam.

Trích ABS điểm tin 17/10/2014:  – 5 lý do cản trở giáo dục đại học Việt Nam phát triển (KTĐT).

Nền giáo dục ở miền nam 1954-1975 (trích) – Nguyễn Thanh Liêm (HTN).  – Nguyễn Vĩnh Thượng: Tiến Sĩ NGUYỄN THANH LIÊM – NHÀ VĂN HOÁ GIÁO DỤC NHÂN BẢN VIỆT NAM (Petrus Ký). Nhưng mà cụ Nguyễn Thanh Liêm đã bị đảng và nhà nước xếp vào diện “Thế lực thù địch”!

Bài văn điểm 10 khiến giáo viên nể phục (Zing).  – Những bài văn độc đáo của học sinh tiểu học (1) (GĐVN). “Các bạn, ai ai vào vị trí của người đó. Sách vở để ngay ngắn trên bàn. Cô giáo bước vào lớp. Học sinh đứng dậy chào cô. Cô mặc chiếc áo dài hoa rất đẹp. Tóc cô thẳng mượt thả đến ngang lưng. Cô đặt chiếc cặp đen lên bàn và cất tiếng dịu dàng: ‘Hôm nay có ai đóng tiền không’?

Va chạm xe, nhóm học sinh cầm dao truy sát 2 công nhân (KT). Học sinh đã biến thành côn đồ từ bao giờ?

10976986334_7459238255_z

Advertisements

Leave a comment

Filed under Uncategorized

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s