Vấn đề Nguyễn Ái Quốc

Thụy Khuê –   Hai chương: “Nguyễn Ái Quốc lai lịch và văn bản” và “Khảo sát văn bản Nguyễn Ái Quấc/Quốc” trong Nhân Văn Giai Phẩm và vấn đề Nguyễn Ái Quốc (1984-2012)

.
Chương 18: Nguyễn Ái Quốc lai lịch và văn bản

Bộ sách Hồ Chí Minh toàn tập, 12 cuốn [1], 8410 trang, gồm:

– 80% diễn văn, công văn chính thức, do các bí thư viết, văn phong thay đổi tùy theo sách lược chính trị mỗi thời và bút pháp từng người.

– 5% chú thích.

– 15% còn lại là văn bản gần 1000 trang, có thể chia làm hai phần: Phần dịch từ tiếng Pháp những bài ký Nguyễn Ái Quốc và phần tiếng Việt gồm những bài ký bút hiệu khác.

Phần tiếng Việt: Gồm những bài đăng báo Việt Nam, ký C.B tập 7 và 8 – C.B là viết tắt của Của Bác, theo Bùi Tín, ký Trần Lực, tập 9 và 10 và ký Chiến Sĩ, tập 11. Loạt bài tiếng Việt phản ảnh tư chất thực tiễn, ngắn gọn, dễ hiểu, không lý thuyết lý luận, không khôi hài, có lẽ đó mới đích thực là văn viết của Hồ Chí Minh. Bài Việt Nam Yêu Cầu Ca, có thể xem là bài thơ đầu tay, phản ánh lối làm thơ nôm na của ông Hồ. Sau này, còn có nhiều bài khác, cùng một phong cách như thơ chúc Tết, thơ Trung Thu và thơ ngâm vịnh. Lối thơ này được in lại trong tập 3.

Phần ký Nguyễn Ái Quốc: Khoảng 700 trang -bản CD bị cắt một số đoạn, so với sách in- là bản dịch những bài viết trên báo Pháp, từ 1919 đến 1927. Bản dịch chưa lột hết cá tính nguyên văn, nhưng cũng làm lộ phẩm chất, tư tưởng, lòng ái quốc và chí khí của người viết. Chính loạt bài này đã “thành danh” Nguyễn Ái Quốc, xác định “tư tưởng Hồ Chí Minh”, làm cho ông trở thành thần tượng ngay từ thập niên 1920-1930 của thế kỷ trước.

Nguyên bản tiếng Pháp trên báo, được ký dưới hai dạng: Nguyễn Ái Quấc, trong thời kỳ đầu, sau Nguyễn Thế Truyền giữ lại Nguyễn Ái Quốc.

Phần khảo này có hai mục đích:

– Truy nguyên lai lịch bút hiệu Nguyễn Ái Quấc/Quốc.

– Khảo sát văn bản Nguyễn Ái Quốc.

Để truy nguyên lai lịch Nguyễn Ái Quốc, ta phải trở lại sự thành lập Nhóm An Nam Yêu Nước tại Toulouse.

Hoạt động của Phan Văn Trường tại Công Binh Xưởng Toulouse

Ra tù năm 1915, Phan Văn Trường tiếp tục là phần tử “nguy hiểm”, luôn luôn bị theo dõi. Mật thám dò hỏi người giữ cửa immeuble về mọi hoạt động, giao du của ông. Trong thời gian ở Toulouse, ông không ở trong trại lính, thuê nhà ở riêng, đổi nhà 2 lần, đều ở phố Taur – Rue du Taur. Vì biết mình luôn luôn bị mật thám theo dõi và vẫn tiếp tục chống Pháp, ông giấu kín việc gia đình, có người vợ không giá thú, và con trai không ở cùng địa chỉ.

Ông Khánh Ký cũng xuống Toulouse, ở số 23 đường Braqueville. Nguyễn Thế Truyền, em, chú và em họ cũng về Toulouse học.

Thời kỳ đó, Phan Châu Trinh trải qua nhiều bất hạnh đớn đau, có lẽ không liên lạc thường xuyên với anh em trong một thời gian dài. Bà Phan Châu Trinh mất khi ông ở tù và ông cũng bị chặn tin, không hề hay biết, như trường hợp Nguyễn Thế Truyền. Ra tù, ông bị chính quyền thực dân cắt trợ cấp, hy vọng không biết tiếng Pháp, không thể xoay xở nổi, Phan sẽ phải về nước.

Nhưng Phan học nghề ảnh với Khánh Ký và tự lập được. Ông di chuyển nhiều nơi: Chartres, Pons, Bordeaux, Le Havre, kiếm sống sung túc. Đến tháng 3/1917 Phan lâm trọng bệnh phải vào bệnh viện Cochin 2 tháng. Ra viện, tiền dành dụm đã hết, lại yếu quá không làm việc được. Châu Dật phải nghỉ học, làm việc ở siêu thị Bon Marché để nuôi cha. Marius Moutet can thiệp, Dật được học bổng trở lại, học tiếp niên khoá 1917-18, nhưng đã mắc bệnh lao vì quá vất vả. Pháp không chữa được.

Phan hy vọng cho con về Việt Nam thời tiết ấm hơn, Châu Dật lên tầu về nước ngày 27/9/1919 và mất ở Huế ngày 2/2/1921.

Từ 1916, Phan Văn Trường ở Toulouse vẫn bị André Salles theo dõi nhưng không làm hại được. Đến tháng 9/1917, nhân việc Phan dịch đơn xin hồi hương cho một người thợ, mọi sự lại dấy lên lần nữa, Phan bị khám xét nhà cửa. Bộ Quốc Phòng bắt buộc phải mở cuộc điều tra. Viên sĩ quan phụ trách tìm cách ép những người lính thợ phải khai rằng chính Phan đã “chủ mưu xúi giục” họ viết đơn xin giải ngũ. Thực ra, Phan chỉ dựa trên việc chính quyền thuộc địa dán áp-phích quảng cáo khắp nơi, rằng đi lính chỉ một năm rồi về, để khuyến dụ mọi người “tình nguyện” đi lính cho Tây. Nhưng lần này Phan không bị bắt, một phần vì Thiếu tá chỉ huy trưởng Malacamp có thiện cảm với ông, và nhất là nhờ những người lính thợ, không những không khai mà còn nói chính ông Phan đã ngăn cản chúng tôi nộp đơn xin giải ngũ! [2] Tướng Mas xuống gặp Phan, và sau đó mọi chuyện được dàn xếp ổn thoả.

Sự kiện này cho thấy tinh thần tương trợ của đồng bào và nói lên bộ mặt chìm của an ninh: Bộ Thuộc Địa vẫn nghi ngờ hoạt động bí mật của Phan Văn Trường tại Công Binh Xưởng Toulouse, họ theo dõi để diệt trừ. Phan Văn Trường trong hồi ký chỉ viết về việc ông bị theo dõi, bị nghi “oan” vì đã dịch thư xin hồi hương cho một đồng bào, mà không hở chút gì về hoạt động của ông tại Toulouse [3].

Về tội xúi giục binh lính Việt xin hồi hương, chắc không oan, vì đó là một chiến lược: Ông muốn vận động một phong trào phản chiến trong lòng những sĩ quan và binh lính Việt. Cũng giống như ông đã gieo vào đầu óc học sinh trường Parangon tinh thần chống Pháp tại Pháp. Và ông luôn luôn khôn khéo, không hành động ra ngoài khuôn khổ luật pháp: Việc lính thợ xin hồi hương, là đúng luật, đúng hạn kỳ một năm mà chính phủ Pháp đã hứa hẹn. Việc này Phan còn làm lại, trên báo L’Annam ở Sài Gòn năm 1926, kêu gọi lính Việt ở Trung Hoa, ngừng chiến đấu cho Pháp, và lần thứ hai này ông bị bắt, bị kết án cùng với một số tội trạng khác, ông phải sang Pháp tự biện hộ, nhưng vẫn bị tù năm 1929.

Nội dung các văn bản ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc

Đọc những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc và hai tác phẩm Bản Án chế độ thực dânĐông Dương (1923-1924), ta có thể hiểu được hoạt động của nhómNgười An Nam Yêu Nước tại Toulouse: Nội dung tố cáo tội ác thực dân một cách xác thực, toàn diện và ghê gớm, chứa đựng trong toàn bộ các văn bản ký Nguyễn Ái Quấc/Quốc này, cho thấy đây là một công trình dài hơi đã được thu thập tài liệu một cách quy mô trong một thời gian dài, trước khi các tác giả chấp bút.

Thời kỳ Phan Văn Trường ở Toulouse, cùng Khánh Ký là thời gian hình thành cuộc cách mạng bằng ngòi bút trên báo chí Pháp từ 1919 trở về sau, với sự trợ giúp của nhóm Nguyễn Thế Truyền (sinh 1898), em Nguyễn Thế Song (1902) và chú Nguyễn Thế Phu (1900) [4], cùng ở Toulouse trong thời điểm đó và cùng giúp Nguyễn Thế Truyền trong các tờ Le Paria, Việt Nam Hồn, Phục Quốc La Nation Annamite.

Vậy có thể kết luận rằng từ 1916 đến 1919, tại Toulouse, nhóm An Nam Yêu Nước đã tập hợp tài liệu và nhân chứng để chuẩn bị cho cuộc tranh đấu công khai bằng ngòi bút về sau:

1/ Hàng ngày tiếp xúc với lính thợ và sĩ quan Việt, Phan Văn Trường đã thu thập những nhân chứng quan trọng về chính sách dã man của thực dân. Đó là kho lưu trữ lớn nhất, gồm những thông tin từ hai phía: phía chính quyền, qua hồ sơ quân đội Pháp mà Phan tiếp cận được và phía nạn nhân, qua những điều mà người lính thợ Việt Nam hàng ngày kể lại với ông, khi họ nghỉ việc ở xưởng từ 19 đến 21 giờ mới phải vào trại và có nửa ngày chủ nhật nghỉ, như Salles cho biết. Vì vậy “ê-kíp” của ông mới có thể gặp gỡ và ghi lại những nhân chứng nói về các trường hợp cụ thể tội ác thực dân đã xẩy ra ở từng nơi, từng làng.

2/ Năm 1918, Nguyễn An Ninh từ Sài Gòn sang – trước khi đi Pháp, Ninh đã ra Hà Nội học hai năm. Ông biết rõ tình hình cả Nam lẫn Bắc. Sau này, ông còn về nước nhiều lần.

3/ Năm 1919 có nhiều yếu tố hội tụ: Tháng 1, Hội Nghị Hoà Bình khai mạc ở Versailles. Tháng 6, Nguyễn Tất Thành từ Luân Đôn sang Pháp. Bản Thỉnh Nguyện Thư do Phan Văn Trường viết, nhưng Tám điểm hẳn là một sự bàn cãi tập thể, vì Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh đều học Luật.

4/ Nguyễn Thế Truyền sau khi học xong kỹ sư, về quê một năm từ tháng 8/1920 đến tháng 8/1921. Thời gian này, ông quan sát tác dụng của phong trào: tên Nguyễn Ái Quốc được người trong nước coi như một vị anh hùng, và khi trở lại Pháp, Nguyễn Thế Truyền đã thuật lại trong bài “Một người Bôn-Sê-Víc da vàng“. Ông mở rộng địa bàn tranh đấu trên tờ Le Paria của hội Liên Hiệp Thuộc Địa cùng với các nhà văn, nhà báo Châu Phi, Madagascar. Tại trụ sở Le Paria, Nguyễn Thế Truyền thu thập thông tin, qua chứng từ của các nhà báo và của người đọc ở Châu Phi gửi về toàn soạn.

Tất cả dữ kiện đó, tạo ra một ngân hàng thông tin, mà các tác giả sử dụng để viết những bài báo, chính ra là những bản cáo trạng, phơi bày sự thật về chính sách thực dân tại Đông Dương, dưới một bút danh bí mật Nguyễn Ố Pháp, rồi Nguyễn Ái Quấc/Quốc. Nguyễn Tất Thành là người đứng ra nhận tên Nguyễn Ái Quốc.

Nguyễn Tất Thành / Nguyễn Ái Quốc một lầm lẫn vô tình hay cố ý

Khi viết về thời kỳ lịch sử này, hầu hết các nhà nghiên cứu Pháp-Việt đều coi Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường và Nguyễn Ái Quốc là ba nhân vật chính của phong trào chống Pháp. Điều đó không sai. Nhưng sự sai lầm đến từ sự kiện: Nguyễn Tất Thành là người nhận tên Nguyễn Ái Quốc nhưng không phải là tác giả những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc. Sở dĩ chưa ai soi tỏ sai lầm này, vì các lý do sau đây:

1/ Vì Hồ Chí Minh tự nhận là Nguyễn Ái Quốc, nên không ai dám cãi lời “Bác”. 1948, khi viết “hồi ký” ký Trần Dân Tiên, ông Hồ cần dựa trên uy tín của Nguyễn Ái Quốc -cái tên mà người Việt đã biết, đã coi như anh hùng, qua những bài báo chống Pháp thập niên 1920 tại Pháp- để lập cho mình một căn cước “lãnh tụ tuyệt vời” đúng như lời Lữ Phương: Cuốn “tiểu sử” viết về Hồ Chí Minh của Trần Dân Tiên đã biểu lộ rất rõ cái nhu cầu năm 1948 mà Hồ Chí Minh và cuộc cách mạng của ông đang muốn tạo ra cho phong trào yêu nước cộng sản trước tình hình mới – một lãnh tụ tuyệt vời và chỉ có lãnh tụ đó mới là tuyệt vời thôi“. Cho nên ông đã tạo ra các bằng chứng để biện minh Nguyễn Tất Thành chính là Nguyễn Ái Quốc.

2/ Sự kiện này, có thể làm được năm 1948, vì ba người trong cuộc: Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh đã qua đời. Nguyễn Thế Truyền bị bắt từ tháng 5/1941, bị đầy đi Madagascar. Đến tháng 6/1946, Moutet can thiệp, hai anh em ông Truyền mới được thả, nhưng bị quản thúc tại Sài Gòn đến 1947. Tóm lại, 1948, ở Việt Bắc, Hồ Chí Minh tưởng Nguyễn Thế Truyền vẫn đang bị đi đầy, nhóm Ngũ Long không còn ai, vậy mình có thể nhận là chủ nhiệm kiêm chủ bút báo Le Paria, là người lập ra nhóm An Nam Yêu Nước mà không bị ai phản bác. Đúng như dự tính của ông Hồ: không bao giờ Nguyễn Thế Truyền đả động đến việc viết chung bút hiệu. Chỉ khi cuốn hồi ký 41 năm làm báo của Hồ Hữu Tường được in ra năm 1984 tại Paris sau khi ông mất, việc này mới tỏ.

3/ Một mặt khác, sau khi thua trận, người Pháp có mặc cảm tự ti đối với Hồ Chí Minh, mặc cảm này dường như đã thấm vào vô thức của nhiều người, kể cả các nhà nghiên cứu đứng đắn.Vì vậy, dù họ có đặt ra một số nghi vấn về tác giả Nguyễn Ái Quốc nhưng rồi vẫn mặc nhiên coi Nguyễn Ái Quốc là Hồ Chí Minh. Riêng đối với những đảng viên cộng sản Pháp như sử gia Alain Ruscio, và đặc biệt Léo Poldès, người quản lý Câu Lạc Bộ Faubourg, nơi Nguyễn Tất Thành đến học nói tiếng Pháp trước công chúng, thì sự tôn sùng lãnh tụ Hồ Chí Minh còn có ý “kể công” và tuyên truyền cho đảng Cộng Sản Pháp.

4/ Nhiều nhà nghiên cứu ngoại quốc, một mặt, không biết rõ những khó khăn của một người ngoại quốc học viết tiếng Pháp, một mặt, tưởng Nguyễn Tất Thành cũng như hầu hết những thanh niên Việt sang Pháp thời ấy, đều giỏi tiếng Pháp.

5/ Thu Trang trong cuốn Những hoạt động của Phan Châu Trinh tại Pháp, rồi Thu Trang-Gaspard trong cuốn Hồ Chí Minh à Paris, và Lê Thị Kinh trong bộPhan Châu Trinh qua các tài liệu mới, là những trường hợp đặc biệt, mặc dù hết sức trung thành với “Bác Hồ”, nhưng vẫn đưa ra được những bằng chứng nghi ngờ Nguyễn Tất Thành là Nguyễn Ái Quốc.

6/ Sau cùng, sự nhầm lẫn của các nhà nghiên cứu, còn đến từ một sự kiện khác: việc sử dụng những báo cáo sai lầm của mật thám. Yếu tố sau cùng này là rường mối của các sai lầm mà chúng tôi gọi là sai lầm của những nhà nghiên cứu đứng đắn và sự kiện này cần được mổ xẻ, phân tích kỹ càng.

Nguyễn Như Chuyên

Nguyễn Như Chuyên là loại thám tử trà trộn vào hàng ngũ “địch” vẫn thấy trong các phim trinh thám. Khi chính quyền thực dân thả Phan Châu Trinh và cho ông đi Pháp, họ đã gài sẵn một thám tử đi theo hai cha con, là Nguyễn Như Chuyên, thông dịch viên ở Đông Dương, đi với tư cách “sinh viên” được học bổng 3 năm của Pháp, cùng chuyến tầu [5]. Nhiệm vụ của Chuyên có lẽ chỉ bộ trưởng, toàn quyền và một vài người được giao trách nhiệm trực tiếp biết, vì các bộ não an ninh dường như cũng không biết rõ, vẫn coi Chuyên là “đồng bọn” với hai ông Phan.

Tới Pháp, Chuyên vào học trường Jules Ferry tại Versailles ít lâu rồi bỏ, thường đi về giữa Paris và Le Havre, khai là có cửa hàng ở Le Havre. Gần gụi Phan Châu Trinh, làm thông dịch cho ông, trao đổi thư từ “tâm huyết” với ông trong nhiều năm, được ông coi là đồ đệ. Chuyên ở cùng khách sạn với Phan Châu Trinh, rue l’Abbé de l’Epée, rồi rue Cujas. Khi Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường bị bắt, Chuyên cũng bị bắt, bị điều tra thẩm vấn hệt như “tòng phạm” của hai ông Phan. Chuyên có mon men làm thân ông Trường nhưng ông Trường là người cực kỳ thận trọng, đã cảnh báo ông Trinh, nhưng ông Trinh không nghe. Trong hồi ký, ông Trường trách ông Trinh “khinh xuất” là như thế. Chính Nguyễn Như Chuyên đã mạo khai để hai ông Phan bị bắt về tội “phiến loạn”.

Cũng nên đọc qua một đoạn hỏi cung “cò mồi” của quan ba Caron với Chuyên:

“- Hỏi: Hôm khám nhà anh 14/10/1914 ở khách sạn Flandres, 16 Cujas, thấy trong lò sưởi có nhiều giấy tờ đã đốt. Giấy tờ gì vậy?

– Đáp: Chính là các thư của Phan Châu Trinh vì tôi sợ nên đã đốt. Chính qua các thư đó mà tôi biết các khoản tiền chính phủ Đức giúp Phan Châu Trinh cũng như dự định nổi dậy ở Đông Dương trong đó có các thư của Phan Văn Trường về quan hệ của ông ta ở Tàu và sự giúp đỡ của Tàu cho các nhà cách mạng Đông Dương.

– Hỏi: Anh nói thêm chi tiết về kế hoạch nổi dậy?

– Đáp: Phải chờ cơ hội thuận tiện và chiến cuộc ở Âu châu có thể là hiệu lệnh cho cuộc nổi dậy. Quân cách mạng sẽ được các nhà cầm quyền Tàu ở biên giới cấp vũ khí tiền bạc cùng với các lãnh sự Đức ở Tầu. Quan hệ với Tàu do Phan Văn Trường, còn Phan Châu Trinh phải quan hệ với nhà cầm quyền Đức” [6].

Tổ chức mua súng ống là bịa đặt vì hai ông Phan hoàn toàn chống lại bạo động cách mạng. Những câu hỏi được dàn dựng một cách ngu xuẩn: “Hôm khám nhà anh thấy đốt… tư liệu gì vậy? Tại sao Chuyên biết sẽ bị khám nhà mà đốt? Lại nhè đúng lúc công an sắp đến mới đốt để cho họ thấy tro? Tại sao không giữ những thư của Phan Châu Trinh nhận tiền của Đức, nếu có? Tại sao những giấy tờ Phan Văn Trường liên lạc với Tàu làm cách mạng, lại ở nhà Nguyễn Như Chuyên? Phương pháp làm việc của Caron và đồng bọn quả đúng là ô nhục như lời luật sư Moutet nhận định sau này.

Dù là “sinh viên“, Chuyên “được” giam vào ngục nhà binh Cherche-Midi ở tù chung với Phan Văn Trường! “Phan Châu Trinh cứ khen Nguyễn Như Chuyên thông minh và là chính trị gia khéo léo, chứ tôi thấy y rất tồi trong vai thám tử mà người ta giao cho hắn đóng cạnh tôi trong ngục Cherche-Midi” [7].

 Sau khi đi cung về Chuyên thuật lại với ông Trường: “Họ đã quyết định chặt đầu cả ba đấy. Đây là chiến thuật của Sarraut muốn đánh một cú vang dội. Ông phải viết thư ngay tức khắc cho thủ lãnh luật sư đoàn, hay cho Quan ba Caron, hay một người có quyền thế nào khác, kêu xin cầu cứu đi”. Phan Văn Trường chẳng động đậy.

Lần cung hôm sau, ra về, y nói: “Họ đã bắt tôi phải khai là ông nhận tiền của của lãnh sự Đức để mua súng vậy ông còn chần chừ gì nữa“. Phan Văn Trường vẫn không nhúc nhích.

Cuối cùng, hắn quát to bằng tiếng Pháp: “Đấy! đấy! Tôi đã bảo hắn là việc hết sức quan trọng, tôi đã khuyên hắn phải viết thư xin những vị có thẩm quyền can thiệp, mà hắn chẳng coi ra gì, cứ rắn như đá, dù hắn đã có hai anh em bị đi đầy” [8].

Sau cùng, Chuyên giả điên, nhẩy vào cắn Phan Văn Trường, một người lính canh cản lại. Chuyên được chuyển vào nhà thương điên, Phan Văn Trường vẫn nghĩ đó chỉ là một vở hài kịch được dàn dựng. Cớ điên để vô hiệu hoá những lời khai man của Chuyên và có cớ xử hai ông được miễn tố. Sự miễn tố này, là công của luật sư Marius Moutet, đồng nghiệp của Phan Văn Trường tại toà Thượng thẩm, và Phan đã gặp trong hội nghị về nhân quyền ở Lille năm 1914, đã là người bảo vệ hai ông Phan, hiệu quả nhất. Quan tư Roux có can thiệp cho ông Trinh, nhưng chỉ thêm rách việc, vì Caron nói thẳng với ông Trinh: Ông đừng tưởng cứ quen Roux mà xong đâu!

Tại Quốc hội, tháng 2/1925, trong cuộc đối chất với Outrey, Moutet kể lại lúc còn đang đi lính, ông được tin Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường, bạn đồng nghiệp của ông tại toà Thượng Thẩm bị bắt. Đang đóng ở Vosges, ông đã viết nhiều thư can thiệp nhưng vô hiệu. Phải đợi đến lúc đắc cử dân biểu, về Quốc Hội, ông mới đến gặp Thủ tướng Viviani và nói rằng: “Tôi muốn trình thủ tướng người ta đã dùng những phương pháp ô nhục. Là thủ tướng, ông cho phép tôi mở lại hồ sơ, tôi muốn chứng minh rằng nó hoàn toàn trống rỗng”. Ông Viviani gọi trách nhiệm toà án binh đến và ra lệnh: “Tôi yêu cầu ông đưa ngay hồ sơ cho ông Moutet”. Thưa quý vị, tôi đã mở hồ sơ và quả nó trống rỗng. Người ta bảo tôi: “Trống đấy, nhưng hồ sơ thật ở bên Đông Dương kia!” [9]

Albert Sarraut không còn lối thoát. Đành phải tính cách thối lui cho khỏi mất mặt. Và có lẽ bi hài kịch Nguyễn Như Chuyên giả điên được dàn dựng trong hoàn cảnh đó.

Ngày 2/3/1918, một mật báo cho biết: Nguyễn Như Chuyên được đưa vào nhà thương điên Bicêtre từ 22/4/1915 đến 16/4/1916 được ra. Sau khi vào bệnh viện lần thứ nhì, ngày 13/2/1918 Chuyên được ra khỏi để “đi đến Toulouse, số 23 đường Braqueville, nhà người chụp ảnh Khánh Ký, người đã cam kết nhận y để kiếm việc làm cho y” [10]. Vậy Bicêtre có lẽ là “địa chỉ tạm thời” mà Chuyên được ở với bệnh danh “trầm cảm” do bác sỹ cấp, để đánh lạc hướng, và Chuyên sẽ về Toulouse với ông Khánh Ký, để tiện bề theo dõi nhóm Yêu Nước.

Sau chiến tranh, Phan Văn Trường trở lại Paris làm luật sư, mật thám vẫn theo dõi các thân chủ của ông, đe dọa nếu mượn Phan Văn Trường, một kẻ phiến loạn, chống nhà nước Pháp biện hộ, thì có ngày mang họa.

Vấn đề chỉ điểm, mật thám

Chính quyền thuộc địa dùng nhiều mật thám người Việt, dễ len lỏi vào môi trường Việt kiều. Những người có bí danh như Jean, chuyên theo dõi Nguyễn Tất Thành hay Désiré, theo dõi Nguyễn Thế Truyền, đều là Việt. Trong số mật thám có cả các quan: Đốc Phủ Bảy là một trường hợp. Nhưng mật thám có thể đưa những thông tin sai lầm:

Cuốn Cochinchine – Nam Kỳ [11] của Léon Werth, là một tác phẩm văn học giá trị, nói lên sự khâm phục kín đáo của Werth đối với Nguyễn An Ninh và mô tả tỷ mỷ đời sống hàng ngày ở Nam Kỳ dưới sự áp bức của bọn thực dân vô giáo dục trên một dân tộc có truyền thống văn hóa lâu đời nhưng cam chịu. Léon Werth kể lại câu chuyện sau đây: hai mật thám người Việt có nhiệm vụ theo dõi Nguyễn An Ninh ở Sài Gòn, nhưng thay vì theo Ninh, họ lại đi theo Dejean de la Bâtie [12]. Khi Werth và Ninh rời Sài Gòn đi Lục tỉnh, mật thám vẫn tiếp tục theo dõi La Bâtie và làm báo cáo hàng ngày. Đến lúc cơ quan an ninh ở Rạch Giá đánh điện lên, Sài Gòn mới biết là nhầm, hình như hai người này bị đuổi! [13]

Trong năm 1919, Edouard đưa ra những bản báo cáo về Nguyễn Ái Quốc rất dài và tỉ mỉ, đặc biệt mật báo về cuộc thảo luận tối 19/12/1919 ở Villa des Gobelins [14] mà ông được dự – Edouard hình như là Đốc phủ Bẩy, công chức ở bộ Thuộc Địa, “chơi thân” với nhóm Yêu Nước- chép lại lời Nguyễn Ái Quốc diễn thuyết rất hùng hồn về hiện tình Việt Nam và thế giới, trong lúc chính sở mật thám cũng chưa biết Nguyễn Ái Quốc là ai! Đọc bản báo cáo này, người ta có thể nhận ra Nguyễn Thế Truyền vì phù hợp với lối phát biểu của ông, nhất là chi tiết:“Nguyễn Ái Quốc” lấy tàu đi Toulouse.

Theo dõi Nguyễn Ái Quốc

Vấn đề theo dõi Nguyễn Ái Quốc rất phức tạp, vì những lý do sau đây:

1/ Người Pháp và người Tây phương nói chung, thường dùng Họ thay Tên. Vì vậy, đối với người Pháp, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn Tất Thành, Nguyễn Ái Quấc, đều là M. Nguyễn. Ấy là chưa kể các Nguyễn khác trong nhóm Yêu Nước, riêng gia đình Nguyễn Thế Truyền có đến bốn năm Nguyễn.

2/ Thời gian đầu, mật thám chưa phân biệt được 3 nhân vật chính: Nguyễn Thế Truyền, Nguyễn An Ninh và Nguyễn Tất Thành [15]. Vì vậy, có một số mật báo hoàn toàn trái ngược nhau, ví dụ tả Nguyễn Ái Quốc là người miền Nam, tức Nguyễn An Ninh, hoặc học ở Pháp từ nhỏ, tức Nguyễn Thế Truyền. Có mật báo còn nhầm Nguyễn Ái Quốc với Nguyễn Chuyên [16], rồi nhầm Nguyễn Chuyên với Nguyễn Như Chuyên… Đến khi chụp được ảnh Nguyễn Tất Thành, mới vỡ lẽ. Nhưng từ bộ trưởng, toàn quyền đến thanh tra, tất cả đều cho là Thành mạo nhận.

3/ Chính Nguyễn An Ninh và Nguyễn Thế Truyền cũng tung hoả mù: Truyền và Ninh cố tình giao các văn bản họ đã viết cho Nguyễn Tất Thành đem khoe với mật thám rằng mình vừa viết xong.

Vì thế, từ cuối 1919, đã có những bản mật báo ghi rõ: Nguyễn Ái Quốc vừa viết xong cuốn sách này, dịch cuốn sách kia… và Daniel Hémery đã dựa vào những báo cáo này để viết câu: “Cuối năm 1919, Nguyễn Ái Quốc đã “sửa soạn ra cuốn sách Les Opprimés- Những Kẻ Bị Đàn Áp, có thể là sơ thảo văn bản tương lai Procès de la Colonisation – Bản Án Chế Độ Thực Dân và nghiền ngẫm dự định dịch các tác phẩm Tây phương, như L’Esprit des lois- Vạn Pháp Tinh Lý sang Quốc ngữ.” [17].

Sự thể đã trở thành khôi hài: một người mới sang Pháp 6 tháng, đang học tiếng Pháp, làm sao có thể có những dự tính “đội đá vá trời” như vậy?

Việc vở kịch Le dragon de bambouRồng tre, là một ví dụ. Có thể Truyền hay Ninh viết, rồi đưa Thành đem đến cho Léo Poldès, đảng viên cộng sản, người điều khiển các buổi nói chuyện ở Câu Lạc Bộ Ven Đô – Club du Faubourg, khu 17, nơi Tất Thành, từ 14/7/1921, ở ngõ Compoint gần đấy, hay đến để tập nói tiếng Pháp giữa công chúng. Léo Poldès đọc thích quá, đã giúp việc dựng kịch. Ông nhận xét về vở kịch này như sau: “Hoàn chỉnh, hóm hỉnh, đối thoại hài hước quất vun vút như roi, sống động như lối khôi hài của Aristophane” [18].

4/ Ngày 12/10/1919, Guesde báo cáo cho bộ trưởng: “Nguyễn Ái Quốc đã được mời ra sở cảnh sát để hỏi và chụp ảnh ngày 20/9/1919. Anh ta kiên quyết khai tên là Nguyễn Ái Quốc mặc dù ta biết là khai man” [19].

5/ Mật báo ngày 28/11/1919, mô tả khá đúng tình trạng hoả mù ấy: “Chúng tôi thấy ở Paris có một người An Nam hình như gốc Bắc, tự nhận là Nguyễn Ái Quốc. Hắn giấu kỹ danh tánh thật. Chính hắn đã ký những bản truyền đơn đòi tự trị ở Đông Dương. Hắn ở số 6, villa des Gobelins, nhà luật sư Phan Văn Trường, hắn chuyên về vấn đề chính trị và cả ngày ở thư viện Quốc gia, phố Richelieu, thư viện Sainte-Geneviève, Place du Panthéon, ở văn phòng Hội Nhân Quyền, phố L’Université, hoặc nậm nọa với bọn khả nghi cùng chủng loại. Hắn thư từ với Phan Châu Trinh ở Pons, Phan Văn Trường và Khánh Ký hiện đang ở Mayence. Tình báo cho biết tại nhà số 6 Villa des Gobelins bọn An Nam có khi tụ họp tới một giờ sáng, cãi nhau ỏm tỏi đến nỗi láng giềng phải than phiền. (…) Các thám tử của ta theo dõi rất sát tên được gọi là Nguyễn Ái Quốc, một người đã kết thân được với hắn, sớm muộn gì rồi hắn cũng sẽ thổ lộ cho biết danh tánh thật” [20].

Phan Văn Trường cho biết nhà ông lúc nào cũng có vài người canh gác bên kia đường – Villa des Gobelins là một ngõ cụt nhỏ, immeuble khang trang. Vậy thám tử “tìm thấy” Nguyễn Tất Thành ở số 6 Villa des Gobelins là đương nhiên, và Tất Thành nhận mình là Nguyễn Ái Quốc, cũng đương nhiên. Sự tranh luận sôi nổi có thể về đề tài những bài báo sẽ viết. Thời điểm ấy, theo Phan Văn Trường, mọi người đều đến thư viện, đọc và học, vì không có tiền mua than củi để sưởi nhà, rất dễ nhầm người này với người kia, nhất là những người cùng tên Nguyễn.

6/ Ngày 16/9/1920 tổng thanh tra Pierre Guesde thông tri cho Cảnh Sát Cuộc:“Phải gọi Nguyễn Ái Quốc đến hỏi lại: Tên thật là gì? Gốc gác ở đâu? Cha mẹ tên gì? …

Vì ở Đông Dương mọi người đều phải có thẻ căn cước, giấy thông hành, thẻ thuế thân, không thể có chuyện một người đến Pháp mà không có giấy tờ gì cả” [21].

7/ Ngày 12/10/1920, Pierre Guesde viết bài tổng kết gửi lên bộ trưởng, tình hình vẫn hết sức lộn xộn: Cơ quan an ninh Pháp vẫn chưa xác định được ai là người viết những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc, vì họ không tin Nguyễn Tất Thành là Nguyễn Ái Quốc. Chắc chắn do sự khác biệt quá lớn giữa thứ tiếng Pháp mới học của Nguyễn Tất Thành, và thứ tiếng Pháp nhuần nhuyễn tinh vi trong các bài ký tên Nguyễn Ái Quốc. Theo một tài liệu Vidéo của Viện Quốc Gia lưu trữ Âm thanh và Hình ảnh Pháp INA – Institut National Audiovisuel về buổi Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn một nhà báo Pháp tháng 6/1964 [22], thì quả đúng như thế:

Ông Hồ nói tiếng Pháp dở, nhiều lỗi sơ đẳng, có câu ông dịch tiếng Việt từng chữ một, người Pháp không nói như thế. Có chỗ ông không hiểu câu hỏi của phóng viên. Một trình độ Pháp văn như vậy không thể viết được những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc.

Đứng trước tình trạng: có một “bóng ma” Nguyễn Ái Quốc rất tài tình được mô tả trong các bản mật báo: diễn thuyết liên miên, phát biểu trong các buổi họp của đảng Xã hội, viết sách, viết báo, dịch sách, trả lời phỏng vấn báo Triều Tiên, báo Mỹ… Và một “người thật” là Nguyễn Tất Thành tự xưng mình là Nguyễn Ái Quốc, mà lại nói không thông tiếng Pháp, Pierre Guesde, tường trình về sự hoang mang của mật vụ như sau:

“Paris ngày 12 tháng 10 năm 1920

Thưa ông Bộ Trưởng,

(…) Trước hết, Nguyễn Ái Quốc, giấu danh tánh thật của y. Y không muốn bị lộ tung tích; y đã đổi tên nhiều lần khi di chuyển từ nơi này đến nơi khác, cái tên Nguyễn Ái Quốc hiện nay chỉ đánh lừa được kẻ không biết tiếng An Nam; Nguyễn Ái Quốc có nghiã đơn thuần là “Nguyễn yêu nước”. Tất cả mọi cố gắng đều dồn vào việc điều tra hộ tịch của Quốc. Những người chỉ điểm An Nam và các thanh tra an ninh đều bắt tay vào việc và trao đổi thường xuyên với Đông Dương.

Những thông tin do Cảnh Sát Cuộc – Préfecture de Police cung cấp chẳng có gì chính xác (…) Trong buổi nói chuyện với ông thanh tra Cảnh Sát Trưởng, tôi đã thông báo là ông toàn quyền Đông Dương rất có lý khi nhấn mạnh đến việc cần xác định danh tánh Quốc. Tôi còn nói thêm: “Nguyễn Ái Quốc tự nhận mình là người An Nam. Có thật thế không? Ai chứng tỏ điều đó? Y nói rằng y không có giấy tờ nào do nhà cầm quyền Đông Dương cung cấp. Y xen vào chính trị, trà trộn vào những nhóm chính trị, phát biểu trong những buổi hội họp cách mạng, và chúng ta không biết rõ đối thủ là ai! (…)”

Sau buổi tôi nói chuyện cùng ông thanh tra, Nguyễn Ái Quốc bị gọi đến Cảnh Sát Cuộc. Người ta đã chụp hình và hỏi cung y. Việc này xẩy ra ngày 20 tháng 9(20/9/1920). Những câu trả lời của Quốc được lưu trữ trong biên bản đính kèm. Y vẫn khăng khăng nhận mình là Nguyễn Ái Quốc. Chúng ta chắc chắn đó là lời mạo nhận.”

Nhưng ngay sau đó, trong bức thư, Pierre Guesde lại viết những lời ngược lại:

“Trong tình trạng hiện nay của ăng-kết, với những thông tin tiếp được từ Đông Dương, tôi nghĩ có thể xác định rằng Nguyễn Ái Quốc chẳng qua là tên Nguyễn Tất Thành, kẻ đã ở An Nam năm 1908, trong khi xẩy ra bạo loạn, và đã ở Anh trước khi đến Pháp. Mà Nguyễn Tất Thành được coi là kẻ phiến động nguy hiểm.

Ngay từ ngày 25/7/1919, qua điện tín số 1791, chính phủ Đông Dương đã thông báo rằng một bản thỉnh nguyện có ẩn ý, gửi từ Paris, hôm 18/6, cho nhiều tờ báo ở thuộc địa, dưới cái tựa “Những thỉnh nguyện của dân tộc An nam”. Bản thỉnh nguyện này, trước tên ký, có ghi: Thay mặt nhóm người An Nam yêu nước: Nguyễn Ái Quốc” (…)

Nguyễn Ái Quốc đã liên kết với nhiều phần tử cách mạng ở Pháp và ở ngoại quốc. Y giao thiệp cùng lúc với nhóm xã hội, nhóm vô chính phủ ở Pháp và những kẻ cách mạng Trung Hoa, Triều Tiên, Nga, Ái Nhĩ Lan, v.v… Y phát biểu trong những buổi diễn thuyết của đảng Xã Hội, đáng chú ý là hôm 1 tháng 5 vừa qua(1/5/1920) và trong những cuộc đình công khác nhau. Y vừa viết xong một cuốn sách trong đó y đòi độc lập cho Đông Dương. Chúng tôi đã có được bản cóp-pi những đoạn chính của cuốn sách này. Tài liệu đính kèm.

Những lời trên đây chứng tỏ sự bối rối của cơ quan an ninh Pháp: Một mặt cho rằng có một Nguyễn Ái Quốc giả, tức là kẻ đến trình diện, tự nhận mình là Nguyễn Ái Quốc. Một mặt lại tin rằng có một Nguyễn Ái Quốc thật -qua các mật báo- người ấy mới chính là Nguyễn Ái Quốc diễn thuyết và là tác giả các văn bản.

Thời gian từ 1919 đến tháng 5/1920, Nguyễn Ái Quốc “thật” được các chỉ điểm Pháp mô tả như một người đã “liên kết với nhiều phần tử cách mạng ở Pháp và ở ngoại quốc. Y giao thiệp cùng lúc với nhóm xã hội, nhóm vô chính phủ ở Pháp và những kẻ cách mạng Trung Hoa, Triều Tiên, Nga, Ái Nhĩ Lan, v.v… Y phát biểu trong những buổi diễn thuyết của đảng Xã hội, đáng chú ý là hôm 1 tháng 5 vừa qua (1/5/1920) và trong những cuộc đình công khác nhau. Y vừa viết xong một cuốn sách trong đó y đòi độc lập cho Đông Dương. Chúng tôi đã có được bản cóp-pi những đoạn chính của cuốn sách này. Tài liệu đính kèm.

Chân dung này chính là Nguyễn An Ninh, nhờ ba yếu tố: vô chính phủ, diễn thuyết liên miên và viết sách đòi độc lập cho Đông Dương. Nguyễn Thế Truyền lúc đó còn học ở Toulouse, chắc không đi về Paris thường xuyên và Nguyễn Tất Thành, mới sang, không rành tiếng Pháp, không thể diễn thuyết và viết sách tiếng Pháp được.

Pierre Guesde viết tiếp: “Những bài báo phát xuất từ Nguyễn Ái Quốc và đồng bọn được đón nhận khá tốt trong một loại báo (đặc biệt báo L’Humanité). Chúng ta thấy những bài ký tên y trong những báo khác nhau, đặc biệt trong tờ L’Humanité ngày 2/8/1919, và trong tờ Le Populaire ngày 4 và 14/10/1919. Y ở số 6, villa des Gobelins, Paris, trong một nhà lầu do Phan Văn Trường thuê. Phan Văn Trường là một trong những tay phiến động nguy hiểm nhất hiện đang ở Đức cùng với Khánh Ký và François Albert, tất cả đều là bạn Nguyễn Ái Quốc cũng như Phan Châu Trinh thường trực ở nhà Nguyễn Ái Quốc và hiện đang ở đây luôn. Kèm đây là lá thư của Nguyễn Ái Quốc gửi cho M. Outrey, từ Biarritz, ngày 16/10/1919, cho thấy ý kiến của Nguyễn Ái Quốc về chính phủ ta như thế nào. (…) Ta có thể xác định rằng Phan Văn Trường là kẻ thông minh nhất và quỷ quyệt nhất trong nhóm. Nguyễn Ái Quốc là thư ký và là người cho Phan Văn Trường mượn tên” [23].

Bản tường trình của Pierre Guesde bị rối loạn vì những thông tin sai lầm của thám tử, nhất là khi François Albert, một người trong nhóm Yêu Nước, bị hỏi cung cũng khai chẳng hề gặp Nguyễn Ái Quốc bao giờ.

Thực ra những thám tử của Guesde lầm mà không lầm vì vô tình, họ đã xác định được 1/3 sự thực: Nguyễn Ái Quốc chính là Nguyễn An Ninh.

Bởi vì, người mà thám tử thấy viết sách, giao thiệp với nhóm Xã Hội, nhóm Vô Chính Phủ và diễn thuyết liên miên, năm 1919-1920, chính là Nguyễn An Ninh. Người “vừa viết xong một cuốn sách trong đó y đòi độc lập cho Đông Dương” cũng là Nguyễn An Ninh, có thể đó là cuốn La France en Indochine. Người viết Lá thư gửi từ Biarritz cho M. Outrey cũng là Nguyễn An Ninh – Sẽ giải thích sau. Trong bản báo cáo, Pierre Guesde rất tinh tường qua những nhận xét khác của ông:

– Một mực không tin Nguyễn Tất Thành là Nguyễn Ái Quốc. Đọc các văn bản Nguyễn Ái Quốc, ông ta đoán đây là người Pháp viết tiếng Pháp. Đặc biệt ông ta chú ý đến những bài quan trọng như La question des indigènes en IndochineVấn đề dân bản xứ ở Đông dương do Phan Văn Trường viết; bài L’Indochine et la Corée; une intéressante comparaison – Đông Dương và Triều Tiên, một sự so sánh lý thú và bài Lettre à Monsieur Outrey – Thư gửi ông Outrey do Nguyễn An Ninh viết.

– Ông ta xác định Phan Văn Trường là người nguy hiểm nhất.

Tóm lại, tới ngày 12/10/1920, Pierre Guesde vẫn đinh ninh Nguyễn Tất Thành là người “gánh” cái tên Nguyễn Ái Quốc cho Phan Văn Trường. Điều này cũng không sai, nhưng Guesde cũng chỉ tìm ra 1/3 sự thật: Phan Văn Trường cũng là Nguyễn Ái Quốc.

Trong phụ bản số 2 của bản báo cáo gửi bộ trưởng Thuộc Địa, Guesde kết luận:

Sau khi trao đổi với toàn quyền Đông Dương, thấy cần phải biết rõ Nguyễn Ái Quốc là ai. Ngày 20/9/1920 đã đưa giấy gọi Nguyễn Ái Quốc đến sở cảnh sát để chụp ảnh và hỏi lai lịch (kết quả kèm theo đây). Thấy rõ đây vẫn là lời khai man” [24].

Và khi Nguyễn Tất Thành đã đi Nga, năm 1923, trong thư gửi toàn quyền Đông Dương ngày 12/9/1923 Pierre Guesde còn viết: “Những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc không phải do y viết hoặc đã được sửa chữa rất nhiều. Khả năng nói và viết tiếng Pháp của tay An Nam này không đủ để viết những bài y ký tên” [25].

Nguyễn Tất Thành trở thành Nguyễn Ái Quốc và xin vào hội Tam Điểm

Khi Nguyễn Tất Thành đến Paris tháng 6/1919, Hội Nghị Hoà Bình đã khai mạc từ 18/1/1919 ở Versailles. Mục đích của hội nghị là xây dựng những quốc gia Âu Châu mới sau thế chiến. Nhóm Yêu Nước muốn lợi dụng tình hình quốc tế thuận lợi, để xác định sự hiện diện của Việt Nam, một đất nước đã bị mất chủ quyền. Có thể họ đã thảo luận với đại biểu các nước khác trong hậu trường Hội Nghị, trước khi tung bản thư Thỉnh Nguyện.

Khi bản Thỉnh Nguyện hoàn tất, tại sao Phan Văn Trường giao cho Nguyễn Tất Thành đem đến Versailles, mà không giao cho một người khác?

Bởi Nguyễn Tất Thành là khuôn mặt mới, vừa chân ướt chân ráo đến Paris, chưa bị mật thám bao vây. Lần xuất hiện đầu tiên này, chưa ai biết Nguyễn Tất Thành là ai.

Nguyễn Tất Thành, xa nước từ 1911, sống vất vả trên tàu, rồi biệt lập ở Luân Đôn, vừa sang Pháp, chưa biết rõ những thông tin về tình hình trong nước, cũng không đủ kiến thức và không rành tiếng Pháp, nên chỉ có thể giữ vai trò khiêm tốn:học Pháp văn, giữ sổ sách chi thu, tập viết những mẩu tin, phụ trách việc in và phát truyền đơn. Không thể viết được những bài xã luận ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc, nhưng vì muốn trở thành chính khách, Nguyễn Tất Thành xung phong nhận tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc.

Việc đưa bản Thỉnh nguyện đến Versailles là chặng đầu. Xin vào hội Tam Điểm, là chặng thứ nhì. Việc này chắc chắn phải do sự sắp đặt của Phan Văn Trường -có thể Phan Văn Trường cũng có chân trong Hội Tam Điểm- vì Nguyễn Tất Thành mới tới Paris, không thể biết rõ về hội Tam Điểm.

 Theo Pierre Brocheux: “Tháng 8/1919, Quốc đệ đơn xin vào nhóm Ernest Renan trong hội Tam Điểm (Franc-Maçonnerie), 16 Rue Cadet, nhưng không được” [26].

-Theo Thu Trang: Ngày 14/6/1922, Nguyễn Ái Quốc được kết nạp vào hội Tam Điểm” [27]

Tháng 8/1919, người ta chưa biết Nguyễn Tất Thành là ai. Hội Tam Điểm từ chối. Nhưng đến tháng 6/1922, ba năm sau, Nguyễn Tất Thành đã “chính thức” trở thành Nguyễn Ái Quốc, một tên tuổi trong làng báo chống thực dân. Hội Tam Điểm mới chấp nhận. Nhưng chỉ được vài tháng, Nguyễn Ái Quốc bỏ Tam Điểm, vì sao?

Tam Điểm là một hội kín, có truyền thống lâu đời trên thế giới, dựa trên nguyên tắc cao quý “Thân ái -Fraternité- giữa người và người”. Nhưng trên thực tế, hội quy tụ những phần tử ưu tú của xã hội, có thể nắm vận mệnh các dân tộc. Người làm chính trị vào hội Tam Điểm để được bảo vệ khi gặp bất trắc. Trần Trọng Kim cũng ở trong hội Tam Điểm, vì vậy khi làm chính trị, ông có thể nói thẳng mà không sợ chính quyền thuộc địa đàn áp.

Có thể Phan Văn Trường đã tìm cách đưa Nguyễn Tất Thành vào hội Tam Điểm khi Thành mới tới Paris, vì ông tin tưởng ở tương lai người thanh niên nhiệt tình này, và muốn có một thế lực hậu thuẫn cho Tất Thành. Nhưng khi được vào hội rồi, Nguyễn Ái Quốc/Tất Thành không chịu nổi không khí trí thức trưởng giả của hội, nhất là trong những trao đổi, Thành không thể không để lộ những trống vắng về ngôn ngữ và kiến thức của mình trước các thành viên là những phần tử ưu tú của xã hội Pháp. Ngoài ra, còn có thể bị áp lực của đảng Cộng Sản Pháp, nên ít lâu sau Nguyễn Tất Thành đã bỏ hội Tam Điểm.

Về việc Nguyễn Ái Quốc có giấy mời đi dự hội nghị Tours của đảng Xã Hội Pháp, cuối năm 1920, Hoàng Văn Chí cho rằng do Nguyễn Thế Truyền sắp đặt. Có lẽ không đúng, mà vẫn do Phan Văn Trường lo liệu, vì lúc đó Nguyễn Thế Truyền đang ở Việt Nam.

Ta cần phải biết rằng giới chính khách và trí thức Pháp -hay ở nước nào cũng vậy- không dễ thâm nhập, phải là bạn ngồi cùng ghế đại học với họ, hoặc có danh, hoặc có tài. Họ có thể tranh đấu cho cần lao, nhưng họ không làm bạn với những người cần lao, ít học. Một nghịch lý nhưng là sự thật. Vừa đến Paris, làm thợ ảnh, tiếng Pháp chưa thông, làm sao Nguyễn Tất Thành có thể gặp người này, người kia, trong chính giới Pháp? Nếu không được những trí thức thực sự như Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, giới thiệu, và phải “có tên tuổi” trong làng báo như Nguyễn Ái Quốc.

Nhờ những yếu tố này, Tất Thành/Ái Quốc mới có thể được chấp nhận trong môi trường chính trị cánh tả của Pháp. Nhưng “đội” tên Nguyễn Ái Quốc cũng là một gánh nặng, mà đôi khi chính bản thân Nguyễn Tất Thành không kham nổi. Việc tìm lối thoát đi Nga có thể cũng là một cách giải quyết hợp lý hợp tình.

Xem chú thích theo link: http://nhanvangiaipham.free.fr/

Chương 19: Khảo sát văn bản Nguyễn Ái Quấc/Quốc

Sự khảo sát văn bản Nguyễn Ái Quốc dẫn tới sự xác định vai trò lãnh đạo phong trào Người Việt yêu nước của Phan Văn Trường trong giai đoạn đầu (1911-1920) và của Nguyễn Thế Truyền trong giai đoạn sau (1921-1927). Đó là cơ sở đầu tiên của phong trào Yêu Nước chống thực dân trên đất Pháp.

Từ 1927, khi Nguyễn Thế Truyền về nước, phong trào Yêu Nước sẽ do nhóm Trốt-kít tiếp tục lãnh đạo với Tạ Thu Thâu, Hồ Hữu Tường, Phan Văn Hùm, Huỳnh Văn Phương, Trần Văn Thạch… Những nhà ái quốc này, tới năm 1945, sẽ bị cộng sản thủ tiêu, trừ Hồ Hữu Tường sống sót vì trốn ở Hà Nội.

Nguyễn Tất Thành trở thành Hồ Chí Minh, chủ tịch nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, từ 1948, chính thức nhận mình là Nguyễn Ái Quốc, tác giả các bài báo và xác định phong trào Người Việt Yêu Nước do ông lãnh đạo, trong cuốn sách ký tên Trần Dân Tiên. Những người ái quốc đối lập chính trị với ông bị chôn vùi trong nấm mồ “phản động”.

Trong số rất ít nhà nghiên cứu tìm hiểu về giai đoạn lịch sử này có Thu Trang và Lê Thị Kinh đã tìm ra được những tài liệu hiếm quý, nhưng cả hai đều đặt trọng tâm trên Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh, coi ông Hồ là “lãnh tụ vĩ đại”. Nhờ các công trình nghiên cứu của Ngô Văn về lịch sử các nhà cách mạng Đệ Tứ và của Đặng Hữu Thụ về Nguyễn Thế Truyền, và cuốn hồi ký của Phan Văn Trường, mọi sự đã sáng tỏ hơn. Tuy nhiên hiện nay vẫn thiếu một công trình nghiên cứu sâu xa về Nguyễn An Ninh tại Pháp.

Một điểm cần phải xét lại là Phan Châu Trinh và Phan Văn Trường thường được coi như những người mở đường phong trào yêu nước; nhưng vai trò lãnh đạo thường được dành cho Phan Châu Trinh. Phan Văn Trường ít ai biết, hoặc có biết, cũng chỉ coi như người “phiên dịch” tư tưởng Phan Châu Trinh ra tiếng Pháp, cả Hồ Hữu Tường cũng lầm như thế.

Sự thật khác hẳn: Trong thời kỳ tranh đấu ở Pháp, Phan Châu Trinh, tuy với một quá khứ can trường, tuy được dân tộc quý mến, nhưng ông đã bị vượt qua, không thể là người lãnh đạo phong trào. Lý do: Phan Châu Trinh không biết tiếng Pháp.

Khi đi Nhật, bị người Nhật hỏi: Các ông chống Pháp mà có học tiếng Pháp hay không? Cả hai cụ Phan đều ngỡ ngàng. Khi về nước, Phan Châu Trinh có viết bài cổ động học tiếng Pháp, nhưng chính bản thân ông không áp dụng. Trong 15 năm ở Pháp, vì không chịu học tiếng Pháp, ông không tiếp nhận trực tiếp được thông tin của xã hội mà ông đang sống, luôn luôn phải qua trung gian của thông dịch, do đó có sự cách biệt sâu xa giữa ông và những người viết bài ký tên Nguyễn Ái Quốc. Vì không đọc được những bài báo này, ông không biết họ viết gì, nên ông chống lại và cho rằng viết báo tiếng Tây cho Tây đọc là vô ích, từ đó, đưa đến những đổ vỡ về sau. Vì lệ thuộc vào những người phiên dịch cho nên Phan đã tin cẩn Nguyễn Như Chuyên; ngay cả Đại úy Roux, người tận tình giúp đỡ từ lúc ông mới đến Pháp, cũng chỉ là một con bài được Pháp chỉ định với nhiệm vụ làm cho Phan tin vào chính quyền thuộc địa.

Phan Văn Trường để lại cuốn hồi ký Une histoire de conspirateurs annamites à Paris ou la vérité sur L’indochineCâu chuyện những người An Nam âm mưu(chống Pháp) tại Paris hay Sự thật về Đông dương [1]. Nội dung tác phẩm vạch rõ âm mưu thâm độc của chính quyền thực dân, trong vụ án gọi là “âm mưu chống Pháp” gán cho Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh, và bộc lộ mối tương quan giữa hai người, cho thấy đường hướng tranh đấu của họ hoàn toàn khác nhau.

Phan Châu Trinh đả kích quan lại và triều đình Huế, còn đối với Pháp, ông viết nhiều bản điều trần gửi Albert Sarraut với hy vọng chính quyền thuộc địa sẽ thay đổi chính sách để giúp Việt Nam lấy lại chủ quyền.

Phan Văn Trường tuy kính trọng Phan Châu Trinh nhưng phê phán ông Trinh quá ngây thơ, cứ đến bộ thuộc địa “chầu chực” xin gặp Sarraut một cách vô ích.

Điều này không sai vì Phan Châu Trinh ngay từ đầu đã không nhận ra Nguyễn Như Chuyên là mật thám và những “sự tốt” của chính quyền đối với ông thực ra chỉ là sự quản thúc trá hình: Việc quan ba Roux, được lựa chọn trong số những người Pháp thạo tiếng Việt, để đến làm bạn với Phan ngay từ lúc mới sang, ân cần giúp đỡ, dịch cho Phan những kiến nghị gửi toàn quyền Albert Saraut cũng nằm trong chính sách ấy. Cả vụ Sarraut cho Phan ở thêm một năm, cũng là sự dàn xếp để Phan thấy rõ “lòng tốt” của Sarraut. Những điều này khá rõ trong hai bức thư Roux gửi cho Phan từ những ngày Phan mới đến Pháp:

1/ Bức thư đầu tiên Roux gửi Phan Châu Trinh ngày 26/5/1911 có những câu:“Theo nhời quan Thượng Thư Thuộc Địa tôi xin viết mấy chữ nầy để mời quan lớn lại chơi nhà tôi phố Odessa, số bẩy, gần “la ga Montparnasse” (…)

Khi quan lớn mấy tôi đã gặp nhau một lần nào như thế rồi thì chúng ta định mỗi một tuần lễ nào quan lớn mấy tôi hội nhau mấy lần, để quan lớn tỏ ra được các điều quan Thượng thư phải nghe rõ”  [2].

2/ Ngày 20/7/1911, trong bức thư thứ nhì, Roux gọi Phan là em: “Quan toàn quyền đã xem cái thư ấy rồi, lại định rằng ưng cho các điều em tỏ ra trong cái thư ấy.

Nhưng có một điều em nên hiểu rõ là sau này: Quan Toàn Quyền Sarraut thật là một người yêu mến dân Annam lắm. Ngài ấy chưa sang ở bên Đông Dương một lần nào mà đã lo liệu dân tình nước ấy lắm. Ở trong bụng thì định rằng: muốn giúp đỡ người Annam để được tấn tới và thịnh vượng.

Quan Toàn Quyền định cho em ở bên Tây này một năm nữa, nhưng trước hết Toà Toàn Quyền nên lo liệu về việc ấy để xem cách nào nên dùng thuộc về phí tổn.

Dẫu hoá ra gì thì em nên tin cậy quan Toàn Quyền; lại em cũng nên tin cậy anh vì anh mấy em bây giờ là như hai người bình đẳng, là như hai người bạn hữu thật”. [3].

Chính Roux đã đưa Phan đến trình diện Pierre Guesde, lúc đó chưa làm Tổng Thanh Tra -nôm na là trùm an ninh thuộc địa- nhưng đã làm chánh văn phòng Bộ Thuộc Địa. Trong những trao đổi thư từ giữa Guesde, Salles và thuộc hạ [4], họ đã tính buộc hai cha con Phan phải đi Neufchatel-en-Bray gần Dieppe để phân tán lực lượng Hội Đồng Bào Thân Ái ngay từ tháng 4/1912. Nhưng Phan Châu Trinh từ chối, họ không dám ép quá, sợ Phan làm ầm lên, rách việc, nên mới thôi.

Roux có nhiệm vụ “nói tốt” và chứng minh “thực tâm” của Sarraut và chính quyền. Trong khi “thực tâm” Sarraut đối với Phan Văn Trường và Hội Đồng Bào Thân Ái ra sao, ta đã rõ. Ngay cả Ernest Babut, người đã làm báo với Phan ở Hà Nội, giúp đỡ và bênh vực Phan khi ông bị bắt năm 1908, cũng “làm việc” với chính quyền. Babut đã báo cáo với Guesde về Phan Văn Trường và “gợi ý” cho Phan Châu Trinh xin Guesde xuống Marseille làm việc ở Hội Chợ 1922, lãnh lương của Pháp, gây sự nghi ngờ giữa ông Trinh và các đồng chí. Những “ân nhân” này, phải hiểu, trước hết họ là người Pháp, họ không thể phản bội nước Pháp của họ. Việc giúp Phan chỉ có mục đích làm cho Phan tin tưởng hơn nữa vào chính quyền thuộc địa, không “nổi lên” chống lại mà “cộng tác” và họ đã thành công.

Riêng luật sư dân biểu đối lập Marius Moutet là người của luật pháp, vì muốn làm sáng tỏ sự công minh của luật pháp nước ông và truy tố phương pháp ám lậu, nhầy nhụa của bọn thực dân, cho nên Moutet đã tận tình can thiệp cho Phan Châu Trinh, Khánh Ký, Phan Văn Trường và anh em, Phan Bội Châu, Nguyễn Thế Truyền và em… ra khỏi cảnh tù đầy, để họ được tự do bầy tỏ chính kiến của mình. Tuy nhiên khi Moutet lên làm bộ trưởng, chính sách của ông đối với Việt Nam lại là một chuyện khác.

Phan Châu Trinh dưới mắt Phan Văn Trường

Sự bất đồng ý kiến giữa Phan Văn Trường và Phan Châu Trinh đã nhiều nơi đề cập, qua những bức thư Phan Châu Trinh viết cho Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền, đã được công bố. Ở đây, chúng tôi chỉ nhắc đến ý kiến của Phan Văn Trường trong cuốn hồi ký Une histoire de conspirateurs annamites à Paris – Chuyện những người An Nam âm mưu tại Paris [5].

Sử gia Ngô Văn cho biết: Ở thời điểm xuất hiện trên báo Chuông Rè, tác phẩm gây chấn động trong lòng người dân nô lệ như một luồng điện giật [6]. Nội dung tác phẩm trình bày hành trình tư tưởng và con đường tranh đấu của Phan Văn Trường, kêu gọi người dân nô lệ phải đứng lên làm người. Đừng sợ kẻ khác. Dù phải trả giá thế nào đi chăng nữa. Phan Văn Trường thuật lại vụ án mà ông và Phan Châu Trinh bị thực dân dàn dựng để ghép hai người vào tội âm mưu lật đổ chính quyền Pháp.

Phan Văn Trường đã dành nhiều trang hồi ký cho Phan Châu Trinh, người bạn đồng hành của mình. Ông viết theo lối Tây học, có gì nói thẳng, cả cái hay lẫn cái dở của bạn. Một nhận xét: Phan Văn Trường không hề nhắc đến tên Nguyễn Tất Thành, mặc dù Tất Thành ở nhà ông trong 2 năm, từ tháng 6/1919 đến tháng 7/1921.

Sự ngây thơ của Phan Châu Trinh, được phân tích khá cặn kẽ, trong chương X. Phan Văn Trường mô tả Phan Châu Trinh là người thông minh thiên bẩm, uyên bác và có kinh nghiệm sống, nói chuyện hay, nhưng dường như những ưu điểm trên đây bị sự khinh suất khó mường tượng và sự ngây thơ lạ lùng phá vỡ. Những lời lẽ hạ mình đối với chính quyền thực dân trong Đầu Pháp chính phủ thư, thực vô ích. Phan Châu Trinh đến Pháp với con trai là Phan Châu Dật, 12 tuổi, để lại vợ và 2 con gái ở nhà. Chính phủ Pháp trợ cấp mỗi tháng 420 francs. Hai cha con ở một nhà trọ, có vài công chức cao cấp của chính quyền thuộc địa thỉnh thoảng đến thăm. Ông được đồng bào nhiệt liệt hưởng ứng, người Việt ở Paris đến chơi, nghe ông nói chuyện để thoả lòng nhớ nước.

Phan Văn Trường viết: “Vị nhân sĩ này tượng trưng xã hội An Nam xưa. Ông ra vào văn phòng của bộ Thuộc Địa như một nhân vật được ưu ái tín nhiệm (personna grata), ông trình bày những quan điểm chính trị, đặc biệt yêu cầu ân xá cho những người bạn cùng cảnh ngộ còn ở trong tù, nhưng không bao giờ ông nhận được trả lời ngoài sự im lặng khinh bỉ. Sự chăm sóc hời hợt của chính quyền thuộc địa lúc đầu, lạnh dần để cuối cùng chuyển sang ác cảm và thù nghịch” [7].

Vẫn theo Phan Văn Trường, sự chăm sóc hời hợt này chỉ là cái cớ để dễ bề trừng phạt khi Phan Châu Trinh dám bàn (phiếm) đến chính sách chính trị ở Đông Dương, và nhất là đã cùng Phan Văn Trường, làm một bản Thỉnh Nguyện gửi hội Nhân Quyền, nhờ can thiệp cho những người bạn còn bị tù Côn đảo vì biến cố 1908. Thế là một loạt báo Pháp ở Đông Dương (được lệnh) phát triển phong trào bôi nhọ, viết bài ngụ ý tiếc rằng chính quyền Đông Dương đã không để xử tử (Trinh) cho rồi, và quy kết hai người (Trinh và Trường) vào tội tổ chức cuộc nổi dậy chống Pháp tại Đông Dương.

Sau vụ Thỉnh Nguyện Thư gửi Hội Nhân Quyền, Phan Châu Trinh vẫn còn được trợ cấp, ông sống rất chật vật, phải gửi con vào nội trú tỉnh nhỏ (Melun) và ông ở khách sạn, ăn cơm rẻ tiền. Mặc dù ở trong tình trạng khốn đốn, Phan Châu Trinh là người bền chí, ông vẫn còn tin vào chính quyền thực dân, ông đến bộ Thuộc Địa thường xuyên, tìm gặp những công chức cao cấp phụ trách vần đề Đông Dương để bày tỏ lòng trung thực của mình.

Nhưng sau những hớ hênh của ông – Phan Văn Trường muốn nói đến việc Phan Châu Trinh tin cậy mật thám Nguyễn Như Chuyên, coi như môn sinh- ông và tôi bị bắt, bị giam 11 tháng. Tháng 7/1915, ra tù, đang trong chiến tranh, chính quyền thuộc địa cúp hết trợ cấp, hy vọng không biết tiếng Pháp, không có nghề, bắt buộc ông phải về xứ. Nhưng Phan Châu Trinh không về, ông ở lại, học nghề ảnh và sống ung dung.

Sau những bài học đắng cay như thế, tưởng Phan Châu Trinh sẽ hết lạc quan, nhưng không, ông vẫn tiếp tục thái độ triết nhân của mình, coi như không có chuyện gì xẩy ra, vẫn đến Bộ thuộc địa, tìm gặp những kẻ đã đày đọa mình, và xin hội kiến Albert Sarraut hết lần này đến lần khác.

Phan Văn Trường viết: “Tạm nói mà không hề có ý miệt thị rằng, người này -vẫn bám vào chính quyền thuộc địa, bị đuổi cửa trước thì luồn vào cửa sau- người mà chính quyền thuộc địa hai lần buộc tội âm mưu chống Pháp!

Phan Châu Trinh là một người thông minh, một người tử tế, một người bạn tốt; nhưng những đức tính này không đủ để làm nên một người cách mạng” [8].

Lời phê phán quả là nặng, nhưng nếu so với lời Phan Châu Trinh phê phán Phan Bội Châu trong bài Nước Việt Nam mới sau khi liên hiệp với Pháp”, thì lời Phan Văn Trường cũng chưa nặng bằng.

Hồi ký Phan Văn Trường viết năm 1923, lúc tình bạn hai ông đã rạn nứt vì bất đồng chính kiến, nhất là sau vụ Phan Châu Trinh xin Guesde giới thiệu xuống Marseille làm việc ở Hội chợ, và những lá thư đả kích nhau, nhưng ông Trường vẫn bênh vực ông Trinh bị Pháp kết án oan vì không hiểu rõ chủ trương Pháp Việt đề huề của ông Trinh, đồng thời nói lên sự khác biệt trong con đường tranh đấu của hai người và đó cũng là sự khác biệt sâu xa giữa hai phái Nho học và Tây học.

Tinh thần Tây học này, được xác định một lần nữa trong nhận định của Hoàng Xuân Hãn. Về “Đầu Pháp chính phủ thư” của Phan Châu Trinh, Hoàng Xuân Hãn viết: “Lời lẽ trong thư kịch liệt, có thể kích thích sĩ khí, nhưng lại vô tình hay hữu ý ngoa ngoắt bôi nhọ quốc dân và quan lại, dường như để nhử chính quyền tin mình mà nhận lời mình. Kết quả là không những ý mình không toại, mà thực dân đã dùng quan lại để trừ khử ông: ông bị kết án tử hình; rồi may nhờ Hội Nhân quyền Pháp can thiệp, chỉ bị đầy ra Côn Đảo. Giả sử thực dân bấy giờ khôn ngoan hơn, biết thấy lợi xa mà nghe lời ông, thì lập trường của ông trong giai đoạn nầy có lẽ sẽ có lợi cho dân ta trong quá trình tìm giải phóng. Trái lại, sự thất bại của ông đã làm cho người ngày nay, khi đọc lại thư ông, chỉ có cảm tưởng ông ngây thơ về chính trị và cảm thấy tức tối khi ông mạt sát quá đáng đồng bào, mà tâng bốc vượt mức thực dân. Tuy vậy, ta không thể không nhận rằng ông có óc hiện thực, biết quan sát, phân tích và có thái độ can đảm và thẳng thắn” [9].

Hoàng Xuân Hãn cũng như tất cả mọi người lúc đó chưa biết rõ sự thâm độc của thực dân. Mặc dù Phan công kích các quan thậm tệ, nhưng khi ông bị bắt năm 1908, chính triều đình đã bênh vực ông khỏi án tử hình: Lê Thị Kinh tìm được các công văn chứng minh các quan trong Phủ Phụ Chính thời vua Duy Tân, đặc biệt Cao Xuân Dục và Lê Trinh đã tìm mọi cách chống lại quyết định của Khâm sứ Lévecque và Toàn quyền lâm thời Bonhoure, muốn xử tử hình Phan Châu Trinh [10].

Con đường tư tưởng của nhóm Tây học

Nhờ sự khảo sát văn bản Nguyễn Ái Quốc, ta có thể xác định Phan Văn Trường mới thực sự là thủ lãnh phong trào Việt kiều yêu nước, chính ông đã xây dựng nền móng, rồi cùng Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh hình thành đường lối chính trị và tư tưởng chống Pháp:

– Bằng ngòi bút, đả kích trực tiếp thực dân bằng cách trình bày những tội ác của thực dân trên báo chí Pháp. Đối lập nước Pháp cộng hoà với nước Pháp thực dân: Nói rõ tội trạng của bọn thực dân để người Pháp phải xấu hổ mà bác bỏ chính sách dã man đó đi.

– Liên kết với các nhà văn và nhà chính trị phái tả, các báo L’Humanité và Le Populaire của đảng Xã Hội; La vie ouvrière, La revue communiste và Le Paria của đảng Cộng sản, Le libertaire của nhóm anarchiste…

– Từ 1922 trở đi, nhóm Yêu Nước của Nguyễn Thế Truyền đã sử dụng Hội Liên Hiệp Thuộc Địa và báo Le Paria của đảng Cộng sản làm bàn đạp để kết giao với các nhà hoạt động cách mạng trên các thuộc địa Châu Phi, Madagascar, tạo thành phong trào chống thuộc địa toàn cầu.

– Tác phẩm Le procès de la colonisation françaiseBản án chế độ thực dân Pháp là thành quả của sự hợp tác này. Và cũng từ cuối năm 1923, khi mọi người đã rời khỏi Paris, Nguyễn Thế Truyền đứng mũi chịu sào với sự giúp sức của chú ruột Nguyễn Thế Phu, em ruột Nguyễn Thế Song, người cùng làng Nguyễn Thế Thạch, và các đồng chí và môn đệ như Nguyễn Văn Luận, Tạ Thu Thâu… đã mở rộng cuộc đấu tranh, không những về phía Châu Phi, Madagascar, mà còn viết bài ký tên Nguyễn Ái Quốc trên báo Inprekorr của Nga, ấn bản tiếng Pháp. Ý niệm “toàn cầu hoá” cuộc tranh đấu chống thực dân là của Nguyễn Thế Truyền.

Phan Châu Trinh vì không tiếp cận trực tiếp với tiếng Pháp, nên ông không thể hiểu được con đường chính trị này. Vì vậy, ông không tha thiết, mà còn chống lại việc viết báo tiếng Pháp cho người Pháp đọc. Những đề tài viết về một người boxeur da đen như Siki của Nguyễn Thế Truyền có thể là vô bổ đối với Phan Châu Trinh, nhưng đối với cuộc tranh đấu toàn diện, đó là một cái nhìn thấu suốt tình hình thế giới.

Ngoài niềm tự hào dân tộc mãnh liệt, những cây bút ký tên Nguyễn Ái Quốc luôn luôn đề cao tư tưởng phương Đông: Phan Văn Trường nghiêng về văn minh Trung Hoa, Nguyễn An Ninh nghiêng về văn minh Ấn Độ, và Nguyễn Thế Truyền nghiêng về lịch sử và văn hoá dân tộc. Đó là điểm khác biệt giữa ba người.

Trí thức ở Pháp có truyền thống theo cánh tả. Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền muốn tranh đấu, phải dựa vào trí thức cánh tả, trong các đảng xã hội, đảng cộng sản, nhóm anarchiste… nhờ họ làm hậu thuẫn để chống lại chính sách thực dân.

Tuy vậy, Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh không vào đảng nào, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành vào đảng Xã Hội, rồi đảng Cộng Sản. Nhưng nên hiểu cộng sản 1920 khác với cộng sản Staline. Bản Tuyên ngôn Cộng sản của Marx – Engels mà Phan Văn Trường in trên báo La cloche fêlée, được Ngô Văn giải thích như sau: “Bản tuyên ngôn của Marx – Engels trong thời điểm 1920 rất được phổ biến, in thành sách nhỏ rẻ tiền tại Pháp, nó không chứa đựng điều gì có thể gây sốc, mà chỉ có thể làm cho thanh niên suy nghĩ” [11].

Phan Văn Trường

Bằng văn bản và diễn thuyết, Phan Văn Trường đả kích trực tiếp những nhân vật chủ chốt của chính sách thuộc địa như bộ trưởng, toàn quyền, và toàn bộ hệ thống cai trị thuộc địa. Ông trở lại chính sách thuộc địa Âu Châu thời La Mã, so sánh với chính sách thuộc địa Á Châu của Trung Hoa. Ông tỏ phong thái kiêu hãnh về nền văn minh Đông Phương lâu đời đối diện với một nền văn minh Tây Phương non trẻ. Phan Văn Trường phân biệt rõ dân tộc Pháp mà ông quý mến và kéo làm đồng minh để chống lại bọn dã man giết người trong chính quyền thực dân. Ông đánh vào lòng tự hào của dân tộc Pháp để họ phải bãi bỏ chính sách thuộc địa dã man không xứng đáng với lịch sử của họ. Phan Văn Trường đối với chính quyền thực dân nguy hiểm hơn Phan Châu Trinh, bởi ông là người thận trọng, có thế lực, được trí thức Pháp biết tiếng. Ông có quốc tịch Pháp và là luật sư, ông hành động công khai theo đúng luật pháp. Khi bắt bẻ các bộ trưởng, hoặc toàn quyền, ông sử dụng các điều luật trong ngành tư pháp để gọi tội của từng người.

Hồ Hữu Tường viết về Phan Văn Trường như sau:

“Tôi ở chung với cụ Phan Văn Trường được hơn tuần thì cụ về xứ [12]. Trong thời gian đó, ngày nào tôi cũng quấn quýt theo bên cụ, mà nghe cụ kể những mẩu chuyện thăng trầm của đời tranh đấu mình. Cụ rất vui tính, cười hề hề, dầu cho chuyện bi đát, cụ cũng tìm thấy vài nét ngộ nghĩnh để mà trào lộng. Cụ là một bực học giả uyên thâm, các sách hay của Đông phương lẫn Tây phương cụ đều đọc cả. Cụ nói: “Tôi đọc được nhiều là nhờ nghèo. Mùa lạnh ở nhà rét quá chịu không nổi, mà mình không đủ tiền mua than củi để sưởi. Đành vào thơ viện từ chín giờ sáng đến mười giờ tối. Gián đoạn bằng hai lượt đi ăn. Vào thơ viện, phải im phăng phắc, thì đọc sách là việc bắt buộc.

Triết học, kinh tế học, xã hội học, tôn giáo… sách nào căn bản, cụ đều có nghiên cứu kỹ. Luận án thi tiến sĩ luật của cụ bàn về chủ nghiã Bôn-sê-vích ở Nga [13] đem áp dụng vừa được cuộc cách mạng. Nhưng mà trong thâm tâm, cụ chê tất cả các triết gia Tây phương, ngay cả Marx nữa: Bọn nó vì tự cao ám thị mà chẳng chịu ngó đến văn hóa Đông phương, thành chui rút vào tháp ngà, không có một cái nhìn thống quản. Riêng có anh chàng Schopenhauer khiêm tốn, đọc sách Phật, nên tác phẩm của y đọc dễ chịu hơn” [14].

Những điều Hồ Hữu Tường viết về Phan Văn Trường được thể hiện rõ ràng trên bản Thỉnh Nguyện của dân tộc An Nam. Tháng 6/1919, bản Thỉnh Nguyện của dân tộc An Nam đưa đến Versailles và gửi cho báo chí. Ngày 18/6/1919 L’Humanité đăng bản Thỉnh Nguyện dưới tựa đề: Les droits des peuples – Quyền của các dân tộc.

Điện tín từ phủ toàn quyền ở Hà Nội gửi sang, cho biết bản Thỉnh Nguyện cũng đã đến tay báo chí ở Việt Nam. Lập tức, cái tên Nguyễn Ái Quốc trở thành kẻ thù số một của chính quyền Pháp. Phủ Tổng Thống gửi thông tư đến bộ Thuộc Địa ra lệnh điều tra ngay lý lịch Nguyễn Ái Quốc và vấn đề Nguyễn Ái Quốc được đưa ra tranh luận ở Quốc hội.

Thỉnh nguyện thư Tám điểm gửi Hội nghị Hoà bình năm 1919

Hoàng Xuân Hãn cho rằng: Phan Châu Trinh viết phần Hán văn, Phan Văn Trường dịch ra Pháp văn, Nguyễn Tất Thành làm bài lục bát Việt Nam Yêu Cầu Ca [15].

Nhưng qua văn bản, chúng tôi có thể xác định: Phan Văn Trường viết thẳng phần tiếng Pháp, Phan Châu Trinh dịch sang Hán văn. Nguyễn Tất Thành làm bài thơ lục bát. Bài thơ này, Thu Trang chụp được bản chép tay, và theo Lê Thị Kinh thì có người xác định đấy là nét chữ của ông Hồ. Sở dĩ chúng tôi xác định Phan Văn Trường viết vì những lý do:

– Phan Văn Trường trong buổi diễn thuyết ngày 13/3/1914 ở trường Cao Đẳng Xã Hội, đã dùng những chữ Les revendications indigènes – Thỉnh nguyện của người bản xứ.

– Lời văn trong bản Thỉnh Nguyện 1919 phù hợp với lối viết của Phan Văn Trường: Kín đáo, kiêu kỳ, châm biếm. Trong khi văn Phan Châu Trinh dùng lối trực bút, không châm biếm, ít ẩn nghĩa. Tây Hồ khi viết về Pháp và Tây phương thường có giọng khiêm tốn trong khi Phan Văn Trường có niềm kiêu hãnh của người Phương đông.

Sự so sánh văn bản này dựa trên đoạn đầuđoạn cuối của bản Thỉnh Nguyện –Tám điểm chỉ là những kê khai, có thể do sự bàn bạc của nhiều người– hai đoạn văn ngắn và cô đọng chứng tỏ văn tài của tác giả. Đọc Thỉnh nguyện của người An Nam trên L’Humamité, độc giả Pháp phải chú ý vì giá trị độc đáo của văn bản: Lời lẽ nhũn nhặn mà kiêu kỳ, tự xưng nước mình là Đế Quốc – L’Empire d’Annam, ngụ ý coi kẻ xâm lăng là tiểu quốc. Tác giả tìm cách thu phục lòng người Pháp dân chủ tiến bộ, kích động niềm tự hào dân tộc của họ, để họ thấy xấu hổ mà bãi bõ chế độ thuộc địa tàn ác, không xứng đáng với truyền thống dân chủ của họ. Cách vận động này, trong bức thư ngỏ gửi Nguyễn Ái Quốc 1922, Phan Châu Trinh gọi là “cái dụng lý thuyết thâu nhân tâm của Phan”, mà Tây Hồ phản bác.

Bút pháp Phan Văn Trường có lý lẽ của một luật sư, có kiến thức của một học giả, có sự sử dụng chữ nghiã của một văn tài. Văn bản đã được gửi về Việt Nam qua nhiều ngả. Nhờ vậy, mà người Việt lấy lại niềm tự hào dân tộc. Bản Thỉnh nguyện của dân tộc An Nam trở thành bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền của người Việt.

Phủ Tống thống lo ngại và bọn thực dân bắt đầu lên tiếng phản bác trên báo chí. Phan Văn Trường bắt buộc phải trả lời. L’Humanité ngày 2/8/1919 đăng bàiLa question des indigènes en Indochine – Vấn đề người bản xứ tại Đông Dươngcủa Phan Văn Trường, ký tên Nguyễn Ái Quốc. Sau bài viết này, vấn đề Nguyễn Ái Quốc và nhóm Yêu Nước được đem ra Hạ Viện bàn cãi. Quả bom Phan Văn Trường đã ném trúng đích: lần đầu tiên một kẻ indigène dám lên tiếng ngạo nghễ đòi tự do dân chủ tại Pháp.

Xác định hai bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc do Phan Văn Trường viết

Dưới đây chúng tôi trình bày phương pháp xác định văn bản, bắt đầu bằng 2 văn bản ký tên Nguyễn Ái Quốc do Phan Văn Trường viết.

Tại sao có thể xác định bài La question des indigènes en Indochine là do Phan Văn Trường viết?

Nhờ những chi tiết sau đây:

1/ Tác giả bài báo coi những yêu cầu trong bản Thỉnh nguyện tám điểm năm 1919 là của chính mình. Ông thuật lại lập luận của đối phương cho rằng các yêu sách của mình, đã gây chấn động trong giới thực dân. Đây là hiện tượng sự thực toát ra từ vô thức của ngòi bút: chỉ Phan Văn Trường mới viết như vậy, những người khác không thể và không dám nhận bản Thỉnh Nguyện là của mình vì không do họ viết ra.

2/ Tác giả nhắc đến bản Thỉnh Nguyện 1912, đòi trả tự do cho các sĩ phu bị tù Côn đảo, đăng trong Bulletin officiel de la Ligue des droits de l’homme ngày 31/10/1912. Văn bản này do Phan Văn Trường viết giùm Phan Châu Trinh. Ngoài Phan Văn Trường, ba người kia không biết rõ việc này, vì năm 1912, Truyền, Ninh và Thành còn nhỏ.

3/ Tác giả biết đích xác việc một sĩ quan cao cấp trong quân đội được lệnh tịch thu bản Thỉnh Nguyện 1919 trong tay lính thợ Việt Nam. Chỉ có Phan Văn Trường, cựu quân nhân, có đường dây trong quân đội mới dám cam đoan biết đích xác việc này.

Về bài Phong trào cộng sản quốc tế Đông dương [16] thường được trích dẫn trong các bài viết về tư tưởng Hồ Chí Minh, và được coi là “nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh”, cũng có những dấu ấn cho thấy là bài viết của Phan Văn Trường, căn cứ vào nội dung đề cao văn minh phương Đông một cách ngạo nghễ:

1/ 5000 năm trước, Hoàng Đế đã áp dụng chính sách phân phối ruộng đất.

2/ 2205 năm trước Công Nguyên, nhà Hạ đã đặt ra chế độ cưỡng bức lao động.

3/ 551 năm trước Công Nguyên: Khổng Tử đã khởi xướng thuyết Đại Đồng và nguyên tắc: Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh. Phan Văn Trường sẽ ghi câu này dưới tên báo La Cloche fêlée, từ số 52, thay thế câu Organe de propagande démocratiqueCơ quan truyền bá dân chủ của Nguyễn An Ninh, để chứng minh rằng dân chủ phát xuất từ phương Đông.

Năm 1921, khi Phan Văn Trường viết bài báo này, chủ nghiã cộng sản mới bắt đầu phát triển ở châu Âu, và được nhiều trí thức ngưỡng mộ, ông đưa ra ý kiến: nên phát triển chủ nghiã cộng sản ở Á Châu –để đuổi thực dân– nhưng vẫn ngụ ý cao kỳ: những nguyên tắc mà chủ nghiã cộng sản ở phương Tây của các anh đưa ra, phương Đông chúng tôi đã áp dụng từ bốn, năm ngàn năm nay rồi! Chúng tôi hiện đang mắc vào hiểm họa thực dân, hãy đợi khi nào chúng tôi đuổi được bọn thực dân, chúng tôi sẽ giúp các anh “tự giải phóng”. Đó là những ý thâm trầm sâu sắc của Phan Văn Trường trong bài Phong trào cộng sản quốc tế Đông Dương.

Bút pháp Nguyễn Thế Truyền trên tờ Le Paria

Ngày 1/12/1922, trên Le Paria có hai bài, một bài ký tên Nguyễn Thế Truyền, một bài ký tên Nguyễn Ái Quốc. Khảo sát hai văn bản này, có thể xác định Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Ái Quốc là một.

Nguyên văn bài Một người Bôn-sơ-vich da vàng – Un Bolchevick jaune ký tên Nguyễn Thế Truyền, xin tạm dịch:

“Nguyễn Ái Quốc có phải là một “kẻ đầy tham vọng, không nhân cách và không đại diện cho ai”, như ý kiến của cái điện văn rất thực dân kia. Những lời phỉ báng như thế, hiển nhiên phản ảnh sự gập mình của cái thấp hèn trước cái cao cả.

 Vì thế, đáng được trả lời.

Tham vọng? Hẳn thế, Nguyễn Ái Quốc đầy tham vọng. Nhưng tham vọng gì? Tham vọng giải phóng anh em rơi vào vòng nô lệ, bị bọn “diều hâu thực dân” bóc lột dã man. Có tham vọng nào cao quý hơn?

Kẻ viết bài giấu tên trên báo La Dépêche Coloniale kia, vì ngươi không biết đến nhân cách của Nguyễn Ái Quốc, nên ta cho ngươi biết.

Trong xứ, Nguyễn Ái Quốc sống hạnh phúc bên cạnh người thân. Khi còn rất trẻ, một hôm thấy Pháp chặt đầu đồng bào. Quốc không hiểu tại sao. Phẫn uất, Quốc ra đi, xa lánh bất công, để có thể kêu gào: “Công lý!” ở nơi khác. (…) Hôm nay, anh cương cường tranh đấu cùng những người anh em châu Phi, châu Âu. Với nghề khiêm tốn “sửa ảnh”, vất vả để kiếm sống, nhưng anh trong sạch hơn bao nhiêu quan chức, quá quan cách, ở các thuộc địa, kia.

Ồ! Không! Quốc không hề như họ. Chẳng tiền hô hậu ủng, không diêm dúa mề đai, không cồng kềnh “ấn trát”, nhưng anh mang nguyện ước của đồng bào, kỳ vọng của Dân tộc bị áp bức.

 Năm ngoái, trở lại Đông Dương, tôi được nghe những lời cảm động về anh, bí mật truyền miệng mọi người. Một cụ bà kể: tôi có hai đứa cháu bị Pháp bắt đi đầy (vì tư tưởng); cụ hỏi tôi: “Cậu ơi, Cậu có biết Nguyễn Ái Quốc không?” – Một em bé dễ thương nhớ lại người cha, nhân sĩ nổi tiếng, bị tình nghi vì tư tưởng, một ngày kia bị cảnh sát Tây lôi đi như con chó; trong đầu đầy hình ảnh anh hùng huyền thoại, đứa nhỏ hỏi tôi: “Nguyễn Ái Quốc có phải là người bằng xương, bằng thịt không?”

– Này, người của La Dépêche Coloniale, ngươi không hiểu gì hết, ngươi đang phỉ báng một chân lý lớn lao, một sự hy sinh cao cả, ngươi hãy câm đi!”

– Nguyễn Thế Truyền

Ngay trong câu đầu, Nguyễn Thế Truyền đã bộc lộ lối chơi chữ tài tình của ông, mà khi dịch không thể lột hết: Tờ báo mà ông đả kích có tên là La Dépêche Coloniale, nghiã là Tin điện thuộc địa, hay điện văn, điện tín thuộc địa… Ông bènxé lẻ cái tên này làm hai, thành dépêche – điện văncolonial – thực dân và viết:“Nguyễn Ái Quốc có phải là một “kẻ đầy tham vọng, không nhân cách và không đại diện cho ai”, như ý kiến của cái điện văn rất thực dân kia!

Văn phong Nguyễn Thế Truyền, nhanh, ngắn, mạnh, kiểu quyền Anh, không cho địch thủ kịp đỡ đã tung ra cú đấm khác, khác hẳn lối viết điềm đạm thâm thuý của Phan Văn Trường. Bài này, nội dung không nói lên lòng “tôn thờ” Nguyễn Ái Quốc/Tất Thành, như Thu Trang nhận xét, mà Nguyễn Thế Truyền chỉ có ý vinh danh một người anh hùng vô hình, nói khác đi, một người anh hùng huyền thoại, vì thế ông đặt vào miệng bà cụ câu: Có ai gặp Nguyễn Ái Quốc không? Đặt vào miệng đứa nhỏ câu: Nguyễn Ái Quốc có phải là người bằng xương bằng thịt không? Đó là ý chính của Nguyễn Thế Truyền: hóm hỉnh xác định Nguyễn Ái Quốc là một huyền thoại, không có thật.

Chống Pháp không khoan nhượng, Nguyễn Thế Truyền mạnh tay -tát tổng đốc Vi Văn Định- mạnh bút, luôn luôn đánh thẳng vào thực dân với lời lẽ quyết liệt. Bài này tát tai kẻ viết bài trên báo La Dépêche Coloniale, hèn, giấu tên -có thể là người Việt- không hiểu thế nào là sự hy sinh cao cả cho một chân lý. Xác định văn phong sắc, gọn, giọng khiêu khích, châm biếm, sự kiêu kỳ và lối chơi chữ của Nguyễn Thế Truyền, và đưa ra một thông tin: khi ông về nước, giữa 1920, cái tên Nguyễn Ái Quốc đã được mọi người truyền tụng.

Trên cùng số báo Le Paria này có bài Về vụ Siki – A propos de Siki, ký tên Nguyễn Ái Quốc, y một giọng, viết về sự kiện Siki, boxeur da đen hạ Carpentier, boxeur da trắng:

Chúng tôi trích một đoạn, tiếng Pháp trước, để độc giả thấy bút pháp của tác giả:

“Depuis que le colonialisme existe, des blancs ont été payés pour casser la g… aux noirs. Pour une fois, un noir a été payé pour en faire autant à un blanc. Adversaire de toute violence, nous désapprouvons l’un et l’autre procédé. Mais le fait est là, nous n’avons qu’à le constater. Constatons.

D’un coup de poing – sinon scientifiquement envoyé, du moins formidablement placé – Siki déplaca proprement Carpentier de son piédestal pour grimper dessus lui-même.

Le championnat de la boxe a changé de mains, mais la gloire sportive nationale n’a pas souffert, puisque Siki, enfant du Sénégal, est parconséquent, fils de France, donc Français.

Malgré cela, il arrive que chaque fois que Carpentier triomphe, c’est naturellement par son adresse et par sa science. Mais toutes les fois qu’il est battu, c’est toujours par la force brutale d’un Dempsey ou la mauvaise jambe d’un Siki. C’est pourquoi, au match de Buffalo, on a voulu déclarer – on a même fait déjà la déclaration – que Siki, bienque gagnant, était vaincu “quand même”.

Dịch:

“Từ khi có chế độ thực dân, người da trắng được trả tiền để đánh bể mặt người da đen. Bận này, một anh da đen lại được trả tiền để nện anh da trắng. Chống mọi bạo lực, chúng tôi không tán thành cả hai cách này. Nhưng sự kiện sờ sờ ra đó, chúng ta chỉ việc ngó qua. Xem nào.

Một cú đấm -nếu không được gọi là khoa học, thì ít ra thì cũng trúng boong- Siki rành rành hạ bệ Carpentier và leo lên thế chỗ.

Giải vô địch đánh bốc đã đổi chủ, nhưng hào quang thể tháo quốc gia không hề hấn gì, vì Siki, đứa con Sénégal, tức, con Pháp, vậy, là người Pháp.

Ấy thế mà mỗi khi Carpentier thắng thì tất nhiên là nhờ tài trí và phương pháp khoa học của anh. Còn lần nào thua thì y như rằng là vì một tên Dempsey nào đó, đánh ác hay một tên Siki nào đó, đá hiểm. Vì vậy, trong trận đấu Buffalo, người ta những muốn tuyên bố – người ta đã tuyên bố rồi – rằng Siki dù thắng, “vưỡn” bại!”

A propos de Siki

ký tên Nguyễn Ái Quốc

Tháng 6/1964, Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn một nhà báo [17] với câu:

Le peuple Vietnam c’est un Un et le pays du Vietnam c’est Un” – Ông dịch từng chữ khẩu hiệu “Nước Việt Nam là Một, dân tộc Việt Nam là Một” sang tiếng Pháp, nhưng người Pháp không thể hiểu vì họ không nói như thế và cũng không có thứ cú pháp nào lạ lùng như thế. Chắc chắn không phải với thứ tiếng Pháp thô thiển này, ông Hồ có thể viết được những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc như bài Về vụ Siki hay Bản án chế độ thực dân Pháp.

Nguyễn An Ninh

Nguyễn An Ninh có hai lối viết: lối tranh luận, đôi khi cũng sát phạt không kém Nguyễn Thế Truyền và lối hoà nhã gần Phan Văn Trường.

Bài Thư gửi ông Outrey – Lettre à Monsieur Outrey ký Nguyễn Ái Quốc đăng trên Le populaire ngày 14/10/1919, là lối văn tranh luận, với những chi tiết xác định người viết là Nguyễn An Ninh và sự đụng độ kịch liệt giữa Outrey và Nguyễn An Ninh.

Việc phát xuất từ bài Đông Dương và Triều Tiên, một sự so sánh lý thúL’Indochine et la Corée, une intéressante comparaison, in trên báo Le populaire ngày 4/9/1919. Trong bài này Nguyễn An Ninh so sánh sự bảo hộ Triều Tiên của Nhật Bản với sự bảo hộ Đông Dương của Pháp. Ông buộc tội Pháp đã đầu độc người da vàng bằng những lời hứa hão và dùng bọn bồi bút để ca tụng chính quyền thuộc địa. Ernest Outrey đã từng làm thống đốc Nam Kỳ và từ năm 1914, làm dân biểu, đại diện người Pháp ở Sài Gòn tại Hạ Viện.

– Tháng 6/1919, bản Thỉnh Nguyện đưa đến Versailles và gửi cho các cơ quan có thẩm quyền và báo chí.

– Ngày 23/6/1919, Phủ Tổng Thống yêu cầu bộ Thuộc Địa báo cáo về Nguyễn Ái Quốc và nhóm Yêu Nước.

– Ngày 18/6/1919 báo L’Humanité – lúc đó là báo của đảng Xã Hội, đăng bản Thỉnh nguyện dưới tựa đề: Les droits des peuples- Quyền của các dân tộc.

– Ngày 2/8/1919 L’Humanité đăng bài La question des indigènes en Indochinecủa Nguyễn Ái Quốc do Phan Văn Trường viết.

– Ngày 4/9/1919 Le populaire đăng bài L’Indochine et la Corée, une intéressante comparaison ký Nguyễn Ái Quốc do Nguyễn An Ninh viết. Sự chống Pháp trên báo chí Pháp được phát động qua ngòi bút Nguyễn Ái Quốc. Tình hình sôi động.

– Ngày 20/9/1919, P. Guesde lệnh cho Cảnh sát Cuộc gọi Nguyễn Ái Quốc đến hỏi cung và chụp ảnh, lần đầu.

– Ngày 18/9/1919, vấn đề Nguyễn Ái Quốc được đem ra tranh luận tại Quốc hội giữa Outrey và Longuet – Moutet. Outrey chất vấn Longuet, chủ nhiệm báo Le Populaire: Đã cho đăng những bài báo của Nguyễn Ái Quốc, một kẻ thù của nước Pháp, tên này là một kẻ phiến động đã bị truy tố ở Nam Kỳ. Được tin, Nguyễn An Ninh đang nghỉ ở Biarritz viết lá thư ngỏ cho Outrey, gửi đăng trên báo Le Populaire, phản pháo mãnh liệt, đồng thời xác định mình là Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn An Ninh viết:

“Ông đã nói đi nói lại (ở Hạ Viện) rằng tôi bị truy nã ở Đông Dương vì âm mưu chống Pháp. Vậy hãy cho biết, lúc nào, toà án nào, âm mưu gì?”

Ernest Outrey và Nguyễn An Ninh biết rõ hành tung của nhau. Xin nhắc lại: Trong suốt thời gian từ 1911 đến 1919, Phan Văn Trường, Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn Tất Thành không ai có mặt tại Nam Kỳ.

Outrey biết Nguyễn An Ninh thuộc gia đình chống Pháp hàng đầu ở Nam Kỳ: cha, mẹ, chú, cô đều là những nhà cách mạng. Khách sạn Chiêu Nam Lầu của cha Ninh là nguồn tài trợ cho phong trào Đông Du, là nơi tá túc hội viên các hội kín Đông Kinh Nghiã Thục, Cường Để [18]. Bản thân Nguyễn An Ninh cũng rất quậy, để tóc dài, hay đánh lộn với Tây và viết báo chống Pháp từ thời niên thiếu. Outrey, khi đọc văn, đoán chắc Nguyễn Ái Quốc là Nguyễn An Ninh và dựa trên các thông tin đã biết, Outrey tố cáo Nguyễn Ái Quốc là người đã bị truy nã về tội chống Pháp ở Nam kỳ.

Thành tích chống Pháp của Nguyễn An Ninh đã trở thành huyền thoại: “Thi đậu bằng Brevet Elémentaire [19] nhà ái quốc đi làm báo tiếng Pháp, do người Pháp điều khiển. Trong thời gian làm báo, dù chỉ là một cộng sự viên tầm thường, lượm tin chó cán, nhưng Ninh đã nổi tiếng rồi, vì sự bất khuất, hay đập lộn với người Pháp, hay chưởi người Pháp. Chính trong thời gian nầy, trong nước xẩy ra nhiều chuyện bạo động, nào Phan Xích Long khởi nghiã, Trần Cao Vân rước vua Duy Tân rời kinh thành Huế, Lương Ngọc Quyến bạo động ở Thái Nguyên. Dù những phong trào ấy bị thất bại, song gieo vào lòng người dân thời đó một mầm mống sâu đậm trong cõi lòng, trong số đó có nhà ái quốc thanh niên Nguyễn An Ninh” [20].

Sở dĩ Nguyễn An Ninh không bị bắt vì tuổi vị thành niên, vì vậy, Ninh mới viết Lá thư gửi ông Outrey, thách y phải tìm ra chứng cớ rằng tôi – Nguyễn Ái Quốc- bị bắt ở Nam Kỳ lúc nào, năm nào, bị bắt ở đâu, ra toà nào? Ninh đã “đáp lễ”Outrey tới nơi tới chốn.

Vì câu thách thức này mà ta xác định được tác giả Lá thư gửi ông Outrey là Nguyễn An Ninh. Khi xác định được Nguyễn An Ninh là tác giả Lá thư gửi ông Outrey thì tự nhiên ông là người viết bài Đông dương và Triều tiên, vì bài này mà Outrey nhận diện được Quốc là Ninh và gây hấn.

Người viết nào cũng để lại căn cước của mình qua chữ nghiã. Cho nên dù ký tên gì đi nữa, người đọc tinh ý luôn luôn tìm ra bản chất và lai lịch của người viết.

Sự xác định tác giả một số bài viết ký tên Nguyễn Ái Quốc mà chúng tôi ghi danh sách trong phần cuối chương này, dựa trên cơ sở của những chi tiết đó.

La France et L’Indochine

Ngoài tài bút chiến, Nguyễn An Ninh còn là ngòi bút văn chương và tư tưởng.Trong La France et L’Indochine – Nước Pháp và Đông Dương, Nguyễn An Ninh viết:

“Trong những năm gần đây, mặc dù thực dân hết sức tìm cách giam hãm người An Nam, nhưng dưới hấp lực của phong trào thanh niên Tây du, một vài người đã có thể đến Pháp, quan sát đời sống hàng ngày và tìm hiểu bí quyết về sức mạnh vật chất của Âu Châu. Họ mang về nước tư tưởng dân chủ, tinh thần phê phán của Châu Âu; hơi thở Tây phương đã làm sống lại niềm tin và nghị lực của họ. Họ đã nhận tận tay người Pháp bản án chế độ thực dân Pháp tại Đông Dương. Thực dân không thể ngăn cấm người An Nam biết tiếng Pháp đọc Montesquieu, Rousseau, Voltaire.

Và, cùng một lúc, tinh thần phê phán Tây phương, giúp thanh niên An Nam ấp ủ tâm hồn dân tộc trong lòng, giải thoát triết học Khổng Tử và Mạnh Tử khỏi lớp bụi dầy của đạo lý Khổng Mạnh suy đồi. Đã có một số xu hướng nổi lên, tìm cách cổ động quần chúng bỏ ý định phục thù bằng bạo lực và dấn thân vào con đường tranh đấu mới: Đòi hỏi những tự do căn bản để bảo tồn phẩm giá con người, đòi hỏi những cải cách, hoà hợp tinh thần dân chủ của dân tộc An Nam với tư tưởng Tây Phương. Họ không còn chấp nhận, như quần chúng đã phải chấp nhận, như kẻ bại trận trên chiến trường đã phải chấp nhận, cái luật chiến tranh, cái đắc ý thô bạo của kẻ thắng và sự nhục nhã của người thua. Họ cũng không còn chiến đấu bí mật với lòng yêu nước thuần tuý nữa mà họ tranh đấu công khai, nhân danh nguyên tắc nhân quyền 1789. Và bọn thực dân không còn dám dựa trên cớ “chủ quyền nước Pháp bị đe doạ” để bắt họ đi đày hoặc xử tử.

Như thế, chính sách người bóc lột người ở Đông Dương đã được báo trước sẽ bị phá sản.

Hoặc là, điên cuồng vì thất bại, bọn thực dân vẫn cố chấp áp dụng biện pháp đán áp, tiếp tục siết chặt những nạn nhân đang vùng vẫy, mặc kệ dấu hiệu báo trước những biến cố sắp tới; như thế, thảm họa chung sẽ xẩy ra: nước Pháp mất hết quyền lợi và uy tín -“sứ mệnh giáo hoá” của Châu Âu sẽ lộ bộ mặt thật của nó- và nước An Nam, sau những kinh hoàng, thống khổ, sẽ được tự do hơn để hoàn tất sứ mệnh của mình.

Hoặc là, nước cộng hoà Pháp đến Đông Dương để thay thế bè lũ thực dân; như thế, không những, thanh danh và lợi ích của Pháp sẽ được bảo toàn, mà Pháp còn được hưởng sự tri ân của một dân tộc sẽ ủng hộ họ ở Châu Á.

 Cách đây khoảng 15 năm, để trả lời tiếng kêu của những người bị đàn áp, bọn thực dân đã rêu rao trên báo như sau: “Nước Pháp không đến đây với Kiếm và Luật. Chỉ có Kiếm” [21]. Dường như, sau sáu mươi năm bị đô hộ và chịu ảnh hưởng Pháp, đất Nam Kỳ ngày nay đã được công bố là đất Pháp, vậy người An Nam có quyền đòi hỏi nước Pháp phải mang sang Đông Dương, không những Luật, mà cả thanh bảo Kiếm để bảo vệ Luật pháp. Sự hoà hợp giữa lý tưởng cộng hoà Pháp và tư tưởng dân chủ của một xã hội có nền móng tư tưởng Khổng Mạnh, không phải là sự tiến hoá theo quy luật tự nhiên, như thực dân tuyên truyền. Phong trào giải phóng các dân tộc ở Á Châu không phải là sự “tiến hoá” từ xã hội dã man lên xã hội Âu Châu tân tiến.

Phải là thực dân trong nghĩa ngu xuẩn nhất mới có thể tin được “nghiã vụ giáo hoá” của những người Âu Châu sang xâm chiếm Đông Dương. Ở Ấn Độ, sự tuyên ngôn về “nghiã vụ giáo hoá” (của người) Tây phương gợi trong lòng một Tagore ý thức giáo hoá (đến từ) Đông phương. Ở Trung Hoa, giới thanh niên đã đi học ở Âu Châu, đặt câu hỏi trên báo chí như một thách đố với Châu Âu: “Bạn có thể nói cho chúng tôi biết, nước bạn đã văn minh chưa? (…)

Về chính sách thực dân mà nước Pháp áp dụng ở Đông Dương, chúng tôi nhận thấy:

1- Rằng, ở Đông Dương, nước Pháp chẳng những không áp dụng những nguyên tắc lớn mà họ đã tuyên thệ, mà còn tiêu diệt tư tưởng dân chủ của xã hội An Nam.

2- Rằng, nước Pháp, thừa nhận tự do và quyền công dân Pháp cho những người, hôm qua, vẫn còn là nô lệ, nhưng lại áp đặt chế độ nô lệ ở Đông Dương cho một dân tộc tự do, đã có một nền văn minh, từ khi cư dân sống trên đất Pháp vẫn còn ăn lông ở lỗ (vivait dans des cités lacustres)” [22].

Bài viết La France et L’Indochine mà chúng tôi vừa trích dịch một đoạn trên đây, có thể tóm gọn tư tưởng đấu tranh của Nguyễn An Ninh.

Trong cuốn Nguyễn An Ninh tác phẩm [23] có in bản dịch Nước Pháp ở Đông DươngLa France en Indochine và nói rằng bản này đã in trong in tạp chí Europe, nhưng khi so sánh chúng tôi thấy không hoàn toàn giống.

Theo Đặng Hữu Thụ, “La France en Indochine” tháng 4/1925, in 2000 bản tại nhà A et F Debeaufauve Tournefort Paris. Ninh trao cho Nguyễn Thế Truyền 150 bản để Truyền nhờ các thủy thủ Việt Nam đem về nước. Ngoài ra, sách cũng được gửi tặng một số dân biểu, nghị sĩ Pháp, Hội Nhân Quyền và báo chí viết về thuộc địa. Khi đáp tàu về nước ngày 28/5/1925 cùng Phan Châu Trinh, Nguyễn An Ninh mang theo một số cuốn. Nhưng Bộ thuộc địa biết, đánh điện về Phủ toàn quyền, và sách đã bị tịch thu khi tàu cập bến [24].

Mật báo của Deveze 12/1/1921, nói đến một cuốn Đông Dương, ký Nguyễn Ái Quốc, như sau:

“Hội Ái Hữu xuất bản ở 118 Avenue Parmentier đã gởi cho ông Nguyễn Ái Quốc: “Chúng tôi đã đọc bản thảo “Indochine” hay “Máu của mỗi người” nhưng Hội không thể nhận xuất bản được vì đã cam kết với nhiều nơi rồi. Nhưng chúng tôi sẵn sàng mời ông đến trao đổi về bản thảo đó” Dezeve ghi thêm: “Mặc dù Nguyễn Ái Quốc khẩn thiết nhưng báo L’Humanité cho rằng không thể đưa vào khuôn khổ tờ báo” [25].

Một cuốn sách, mang tên Đông dương (1923-1924) được dịch và đưa vào Hồ Chí Minh toàn tập, tập 1, phải chăng đây chính là tác phẩm Indochine hay Máu của mỗi người mà Dezeve nói đến? Trần Dân Tiên viết: “Ông Nguyễn chỉ viết cuốn sách duy nhất là Bản Án Chế Độ Thực Dân”, vậy ông Hồ không biết đến cuốn Đông Dương ký tên Nguyễn Ái Quốc.

Đông dương (1923-1924), dịch in trong Hồ Chí Minh toàn tập có cùng bố cục như Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp, nhưng lời văn điềm đạm hơn, gần với lối viết của Nguyễn An Ninh và Phan Văn Trường. Điểm chung của hai tác phẩm là cùng dùng những mẩu chuyện, những nhân chứng đã có trong các bài ký tên Nguyễn Ái Quốc. Đông Dương nói đến tình trạng ở nước ta, còn Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp viết chung cho nhiều dân tộc.

Le Procès de la Colonisation Française Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp

Cuốn Le Procès de la colonisation française đề tên tác giả Nguyễn Ái Quốc và Nguyễn Thế Truyền viết tựa. Nhưng thực ra ai viết? Sách in năm 1925, sau khi Nguyễn Tất Thành đi Nga hai năm. 1946, in lại lần đầu ở Hà Nội.

1/ Ngô Văn viết: “Sau khi Phan Châu Trinh khởi hành về Sàigòn, vào tháng 5 năm 1925 một luận văn châm biếm nẩy lửa do Thư điếm Lao động (Librairie du Travail) phát hành và lập tức bị cấm ở Đông Dương. Đó là tập Bản án chế độ thực dân Pháp (Procès de la colonisation française) ký tên Nguyễn Ái Quốc, nhưng có thể là do Phan Văn Trường và Nguyễn Thế Truyền viết” [26].

2/ Đặng Hữu Thụ kể lại giai thoại sau đây: Ông Bửi Nghi, một người bạn kể cho ông rằng Nguyễn Thế Truyền có đưa bản thảo cuốn Bản án chế độ thực dâncho ông Bửu Nghi đọc, nhờ chữa lỗi chính tả, và nói là của Nguyễn Ái Quốc viết [27]. Điều này cũng chẳng nói lên được gì, vì Nguyễn Thế Truyền và nhóm Ngũ Long đã đồng ý với nhau về việc lấy Nguyễn Ái Quốc làm bút hiệu chung. Khi Nguyễn Tất Thành đã đi Nga, Nguyễn Thế Truyền vẫn còn ký tên Nguyễn Ái Quốc trên báo và trong bản quảng cáo sẽ ra báo Việt Nam Hồn. Vậy đó là chiến lược của cả nhóm.

3/ Trần Dân Tiên chỉ viết một câu ngắn gọn về văn bản này: “Ông Nguyễn chỉ viết một quyển sách duy nhất là quyển “Bản án chế độ thực dân Pháp”; quyển này gồm những tài liệu chống thực dân Pháp, trích trong những sách của người Pháp viết để ở thư viện quốc gia. Đầy hăng hái, ông Nguyễn viết cả vở kịch “Rồng tre” [28].

Sự quá vắn tắt của Trần Dân Tiên rất khả nghi, tại sao ông không nói rõ là ông Nguyễn đã viết cuốn Le Procès trong hoàn cảnh nào? Nhất là cuốn sách ấy lại in sau khi ông đi Nga hai năm. Lý do dễ hiểu: có lẽ ông Hồ chưa đọc Le Procèskhi viết những dòng này năm 1948, cho nên mới có câu: “quyển này gồm những tài liệu chống thực dân Pháp, trích trong những sách của người Pháp viết để ở thư viện quốc gia”. Bởi vì những nhân chứng kể tội ác thực dân, mô tả rõ ràng, trần trụi việc hãm hiếp, tra tấn, giết người, ở những làng mạc có tên rõ như thế, lại được in lại thành sách để trong thư viện Pháp, cho ông Hồ chép lại, thì quả là lạ. Báo chí đối lập của Pháp có thể đưa tin này khác về tội ác chiến tranh, nhưng chắc chắn những vụ giết người kinh hoàng như vậy đã bị quân đội và chính quyền thực dân giấu nhẹm, chỉ có các nạn nhân và những người lính Việt Nam đã chứng kiến tại chỗ mới có thể biết được.


Hình của Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Sơn La
ca ngợi HCM nhờ tự học mà thành huyền thoại.

4/ Chúng tôi tạm đưa ra giả thuyết:

Nguyễn Tất Thành không có khả năng tiếng Pháp và không có đủ tài liệu sống để viết tác phẩm này. Có thể ngoài tài liệu của nhóm Yêu Nước, Nguyễn Thế Truyền còn tập hợp thêm những bài báo, những chứng nhân khác ở các thuộc địa, xuất hiện trên báo Le Paria, sửa đổi đôi chút rồi viết tựa. Tài liệu phong phú và cực kỳ chi tiết về sự tàn ác của chế độ thực dân trên các nước nhược tiểu, Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp có thể được coi là một sáng tác tập thể mà Nguyễn Thế Truyền làm “chủ biên” và viết lời giới thiệu.

Phần nhân chứng về Việt Nam do lính thợ cung cấp, họ kể lại những tội ác của quân đội viễn chinh mà họ đã mục kích, những lời chứng này có thể đã được Phan Văn Trường thu lượm trong thời kỳ làm việc tại Công Binh Xưởng Toulouse.

Bản Án Chế Độ Thực Dân Pháp, được viết hay soạn từ những thông tin, những đoạn, những ý tưởng đã có trong các bài ký tên Nguyễn Ái Quốc và những thông tin khác đến từ các thuộc địa châu Phi. Tác phẩm không chỉ đưa ra bộ mặt lầm than, thống khổ của một dân tộc Việt Nam mà còn của tất cả những người dân da màu khác đang bị đô hộ. Vì vậy nó có tính chất nhân loại. Khó có thể xác định ai là tác giả, vì nội dung cho thấy bàn tay của nhiều người: Nguyễn Thế Truyền, trước tiên, vì ông đã có công soạn thảo, chỉnh đốn, viết tựa. Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh, viết về luật pháp. Phan Văn Trường viết về công binh. Nguyễn An Ninh, Nguyễn Thế Truyền, Phan Văn Trường đều có thể khắc họa những chân dung toàn quyền và viết về các chính sách dã man của thực dân Pháp trên đất nước ta. Nhưng còn có những đóng góp khác của các nhà văn châu Phi, và thư từ độc giả từ các nơi gửi về… do đó Nguyễn Thế Truyền đã giữ tên tác giả chung là Nguyễn Ái Quốc.

Vở kịch Rồng treLe dragon de bambou

Không biết Nguyễn Thế Truyền hay Nguyễn An Ninh viết, nhưng chắc chắn không phải Nguyễn Tất Thành, vì chữ Rồng ở đây có ý tự trào, ngạo nghễ ám chỉ đám Ngũ Long, tuy là đồ chơi mà… là Rồng, tức là chơi lối… Rồng – Đế vương. Lại vừa có ý nhạo vua Khải Định là Rồng mà… Rồng tre – đồ chơi. Ý nghĩa thâm thúy như thế, nhưng chắc ông Hồ không hiểu rõ, nên mới nhận là mình viết. Bởi nếu ông viết thì không thể viết như thế, khác nào lậy ông tôi ở bụi này: đã tự coi mình là Nguyễn Ái Quốc duy nhất, thì làm sao lại chấp nhận có các con Rồng khác?

Le dragon de bambou cái tựa của vở kịch, chúng tôi xin nhấn mạnh, nguyên tên tiếng Pháp là Le dragon de bambou – Rồng tre chứ không phải Le dragon en bambouRồng bằng tre, như có người đã cố ý sửa lại, bởi vì người sửa không hiểu được sắc thái (nuance) khác nhau giữa le dragon de bamboule dragon enbambou.

Kịch bản đã mất, nhưng cái tựa Le dragon de bambou- Rồng tre đã chứng minh sự tinh tế về Pháp ngữ của tác giả. Léo Poldès, người được Nguyễn Ái Quốc/Nguyễn Tất Thành đưa đọc để giúp việc trình diễn, viết: “Như cái tựa của vở kịch, Rồng tre là một vị nguyên thủ quốc gia Á châu bất lực, bất tài, ngu dốt, bị tác giả mắng nhiếc thậm tệ trong ba màn” (“Le dragon de bambou, titre de la pièce, était un chef d’Etat asiatique impuissant, incapable, ignorant, et dont l’auteur fustigeait sans pitié, pendant trois actes”) [29].

Ngòi bút Nguyễn Ái Quốc xuất hiện đều đặn trên các báo từ tháng 8/1919 đến đầu 1920: thời gian này chủ yếu là Phan Văn Trường và Nguyễn An Ninh viết.

Trong năm 1920, có ít bài, vì Phan Văn Trường bận việc toà án, đi về giữa Paris và Mayence, Nguyễn An Ninh về Sài Gòn hè 1920 và Nguyễn Thế Truyền về Bắc một năm từ 8/1920 đến 8/1921.

Thời điểm tung hoành mạnh mẽ nhất là khoảng 1921-1922, khi Nguyễn Thế Truyền chính thức bước vào “nghề báo” và Nguyễn An Ninh còn ở Paris: bút hiệu Nguyễn Ái Quốc xuất hiện trên nhiều tờ báo một lúc, vậy hai người viết chính trong thời kỳ này là Nguyễn Thế Truyền và Nguyễn An Ninh. Phan Văn Trường bận việc ở Mayence, ít tham dự.

Tháng 10/1922, Nguyễn An Ninh về Sài Gòn. Cuối năm 1923, Phan Văn Trường về nước. Còn lại Nguyễn Thế Truyền, một mình, ký cả Nguyễn Ái Quốc và tên thật Nguyễn Thế Truyền.

Những bài ký tên Nguyễn Ái Quốc sau khi Nguyễn Tất Thành đi Nga, từ 1923 đến 1927, trên Le Paria và trên Inprekorr, báo Nga ấn bản Pháp ngữ, là của Nguyễn Thế Truyền.

Xác định một số văn bản

Sự xác định một số văn bản mà chúng tôi nêu tên sau đây, dựa vào văn phong và tư tưởng khác nhau của mỗi tác giả; nhưng có khi, chỉ dựa vào một vài chi tiết rất nhỏ.

  • Phan Văn Trường: Tâm địa thực dân, Vấn đề dân bản xứ (L’Humanité 2/8/1919), Những kẻ bại trận ở Đông dương (La vie ouvrière số 101, ngày 8/4/1921), Quyền của những người lính (La vie ouvrière số 105, ngày 7/5/1921),Phong trào cộng sản quốc tế Đông dương (La revue communiste, số 15, tháng 5/1921), Vụ âm mưu ở Đông Dương (17/8/1921)…
  • Nguyễn An Ninh: Đông Dương và Triều Tiên (Le populaire, 4/9/1919),Thư gửi ông Outrey (Le populaire, 14/10/1919), Phong trào cách mạng ở Ấn Độ(La revue communiste, số 18-19 tháng 8-9/1921). Nền văn minh thượng đẳng (Le Libertaire, 23/9/1921), Tội ác của chủ nghiã thực dân (La vie ouvrière, số 126, ngày 30/9/1921), Sự quái đản của công cuộc khai hoá (Le Libertaire, ngày 30/9 và 7/10/1921). Hãy yêu Pháp, nước bảo hộ bạn (Le Libertaire, ngày 14/10/1921)…
  • Nguyễn Thế Truyền: Thú vật học (Le Paria số 2, ngày 1/5/1922), Mấy ý nghĩ về vấn đề thuộc địa (L’humanité ngày 25/5/1922), Paris (L’humanité, 30 -31/5/1922), Lời than của bà Trưng Trắc (L’humanité, 24/6/1922), Những kẻ khai hoá (Le Paria số 4, ngày 1/7/1922), Hận thù chủng tộc (Le paria số 4, ngày 1/7/1922), Thư ngỏ gửi ông Albert Sarraut (Le journal du peuple, 25/7/1922),Khai hoá giết người (Le Paria số 5, 1/8/1922), Phụ nữ An Nam và sự đô hộ của Pháp (Le Paria số 5 ngày 1/8/1922), Nhân đạo thực dân (Le paria, số 6-7 (tháng 9 và 10/1922), Amdouni và Ben Belkhir chịu nhục hình (Le Paria, số 8, 11/1922), Về vụ Siki (Le Paria, số 9, 12/1922), Người bản xứ theo mốt (Le Paria số 10, 15/1/1922)…

Xem chú thích theo link: http://nhanvangiaipham.free.fr/

Advertisements

1 Comment

Filed under Hồ Chí Minh

One response to “Vấn đề Nguyễn Ái Quốc

  1. Pingback: Phan Chu Trinh: Cuộc đời và cách mạng (1872-1926) | Nhận thức là một quá trình...

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s