Đổi mới tư duy là thế nào?

Nguyễn Trần Sâm (Quê Choa) – Năm 1986, noi gương Mikhail Gorbachëv tiến hành “cải tổ” ở Liên Xô, đảng CSVN cũng khởi xướng công cuộc “đổi mới” ở VN. Vì “đảng ta” vốn giàu truyền thống sáng tạo nên trong cuộc đổi mới này đã nghĩ ra một khẩu hiệu nghe “sang” hơn cải tổ của LX. Đó là “đổi mới tư duy”.

Vậy “đổi mới tư duy” là phải làm gì?

� Xem thêm: Phải đổi mới chính tư duy ‘cải cách’

Để thử tìm câu trả lời (tôi nói thử tìm chứ không nói sẽ tìm được), ta hãy xét vài ví dụ về việc đổi mới những thứ cụ thể trong cuộc sống hàng ngày, trong học thuật và trong quản lý xã hội.

Khi nói đến đổi mới cách bài trí trong một gian phòng, ta nghĩ đến việc sắp xếp lại những đồ đạc, tiện nghi trong đó, có thể kèm theo việc thay thế hoặc thêm bớt một số thứ. Như vậy, đổi mới cách bài trí là thay thế hệ thống các đồ đạc, tiện nghi cũ và sự sắp xếp chúng bằng một hệ thống các đồ đạc, tiện nghi mới và sự sắp xếp mới. Để việc sắp xếp lại được thực hiện hợp lý, chủ nhà cần “động não”, tức là TƯ DUY ít nhiều.

Nghiên cứu khoa học là môi trường trong đó sự đổi mới diễn ra liên tục. Trong nhiều trường hợp, đổi mới mang tính cách mạng: một lý thuyết mới ra đời đánh đổ hẳn lý thuyết cũ. Trong quan niệm về cấu tạo của vũ trụ, người thời xưa đã từng TIN vào hệ Địa Tâm, trong đó Trái Đất là trung tâm cố định của vũ trụ. Đó là một niềm tin vô cớ, xuất phát từ sự cảm nhận thô thiển. Nhưng đến thế kỷ XVII, khi có những người thông minh bắt đầu quan sát kỹ chuyển động của các thiên thể và suy nghĩ (TƯ DUY) nghiêm túc về các quy luật của chuyển động thì người ta bỗng phát hiện ra rằng Trái Đất không đứng im, mà chính nó mới quay quanh Mặt Trời (cùng với một số hành tinh khác). Thay thế cho hệ Địa Tâm bây giờ là hệ Nhật Tâm. Ở đây đã xảy ra sự đổi mới quan điểm về vũ trụ. Trước khi đổi mới, con người chỉ tin một cách mù quáng, hầu như không tư duy. Việc tư duy nghiêm túc đã dẫn đến sự thay thế một hệ thống cũ trong quan niệm về vũ trụ bằng một hệ thống mới.

Tiếp tục quan sát và tư duy theo cách nghiêm túc như vậy, các nhà thiên văn học và vũ trụ học lại phát hiện ra rằng Mặt Trời cũng không đứng yên mà cùng với các hành tinh trong Thái Dương hệ quay quanh tâm của “thiên hà của chúng ta” (một trong rất nhiều những thiên hà tạo nên phần vũ trụ mà ngày nay con người quan sát được),… Như vậy, có thể nói vũ trụ học là môn khoa học đổi mới không ngừng. Sự đổi mới không ngừng đó là kết quả thường xuyên của quá trình quan sát và tư duy ở tầm cao, với cường độ cao.

Trong quan niệm về xã hội và sự phát triển của nó, chúng ta từng TIN TUYỆT ĐỐI vào sự anh minh tuyệt đối của các lãnh tụ như Stalin, Mao Trạch Đông,… Chúng ta chấp nhận vô điều kiện những lời phán truyền của những vị này. KHÔNG TƯ DUY! Tư duy có nghĩa là đặt ra những câu hỏi: Vì sao họ nói như vậy? Liệu phát biểu của họ có tuyệt đối đúng không? Mà hỏi như vậy là mầm mống của “chủ nghĩa xét lại”, thứ bị xem như loại bệnh dịch hãi hùng nhất. Tự tìm chân lý là tự xếp mình vào hàng trí thức, loại người ban đầu được xem là kẻ thù số Một của “cách mạng”, sau đó thì được “cách mạng” dùng như một loại công cụ trong sự kiềm chế ngặt nghèo. “Lenin, Stalin, Mao Chủ Tịch không bao giờ sai” – đó là “luận điểm cơ bản” của “cách mạng”. Và các vị đó “dạy” rằng thị trường, nhất là thị trường chứng khoán, là “sản phẩm thối tha” của chủ nghĩa tư bản.

Đến giữa những năm 1980, khi cái đói hành hạ dạ dày của dân các nước XHCN, lãnh đạo các nước này buộc phải “xét lại” những “luận điểm cơ bản” kiểu đó. Kinh tế tư nhân và cơ chế thị trường được thừa nhận. Nhưng họ không dám gọi việc này là “xét lại”. Họ gọi là “đổi mới”. Sự đổi mới đó, dù còn rất xa những đòi hỏi của lương tri và thời đại, nhưng đã làm cho đa số người dân thoát khỏi bần cùng. (Chỉ có điều không thể tính công cho những người khởi xướng “đổi mới”. Thực ra họ có tội vì lẽ ra không được kìm kẹp người dân và nền kinh tế như họ đã làm mấy chục năm trời.)

Cuộc “đổi mới” nói trên trong chính sách kinh tế là sự thay thế một hệ thống quản lý phản động cực đoan bằng một hệ thống đỡ phản động hơn. Sự đổi mới đó là kết quả của việc các nhà lãnh đạo đã bắt đầu động não tí chút, bắt đầu HỌC TƯ DUY (tuy còn quá ít), bắt đầu bỏ được thói quen chấp nhận vô điều kiện mọi giáo điều mà mấy “bậc tiền bối” phán truyền một cách liều lĩnh.

Như vậy, muốn đổi mới một thứ gì đó thì phải TƯ DUY. Muốn đổi mới liên tục để nhận thức và hành động ngày càng đúng thì phải tư duy liên tục.

Đó là đổi mới các thứ, các đối tượng. Thế còn đổi mới chính cái sự tư duy thì có nghĩa là sao? Một đồng chí cấp cao thực hiện “đổi mới tư duy” nghĩa là đồng chí ấy làm gì với “cái tư duy” của đồng chí ấy. Và khi đồng chí ấy dạy chúng ta phải “đổi mới tư duy”, thì khi học theo đồng chí ấy, ta phải làm gì với “cái tư duy” của ta đây? Khó quá! Thưa quý vị, chẳng biết quý vị thấy sao, chứ tôi thì tôi còn chẳng thấy được cái tư duy của tôi nó có hình thù thế nào thì đổi mới nó thế quái nào được! Tôi chỉ biết là để đổi mới cách bài trí trong phòng thì phải tư duy, để đổi mới thế giới quan cũng phải tư duy, và để đổi mới quản lý kinh tế thì cũng phải thế (dù không nhiều lắm), chứ không bao giờ hình dung được việc đổi mới tư duy của chính tôi.

Albert Einstein khi phát minh ra lý thuyết tương đối, ông đã tư duy sâu hơn bất cứ ai cùng thời về các khái niệm không gian, thời gian, chuyển động, về các khái niệm “thước đo”, “đồng hồ”,… Nhờ đó, ông đã đổi mới được nhận thức về các khái niệm này, đầu tiên là cho chính ông, sau đó là cho các nhà khoa học khác. Nhưng ông có “đổi mới tư duy” không? Nếu có thì ông đã đổi mới nó như thế nào? Có lẽ không thể (và cũng không cần) trả lời câu hỏi này. Những ý tứ mới lạ mà ông phát hiện ra là do ông tư duy sâu hơn mọi người, đến mức như mọi người rồi vẫn còn tư duy tiếp, tìm kiếm tiếp, chứ không hẳn là “đổi mới tư duy”.

Còn về cuộc “đổi mới” bắt đầu từ năm 1986 ở ta, các đồng chí thượng cấp đã “đổi mới tư duy” ư? Đổi mới ra sao? Chẳng ra sao cả. Không phải là “đổi mới tư duy” mà đơn giản là bắt đầu tập tư duy chút thôi. Nói “đổi mới tư duy” nghe oai, nhưng kỳ thực hổng phải dzậy. Đó là lý do vì sao các nước khác không nêu khẩu hiệu “đổi mới tư duy”.

Để đổi mới mọi thứ, cần tư duy. Còn đổi mới chính tư duy thì chẳng cần nói đến làm gì, vì nếu có cái thứ đó thì nó cũng mông lung lắm.

Phải đổi mới chính tư duy ‘cải cách’

(BBC) 1 tháng 8 2014 – Hàng chục năm liên tục tuyên bố cải cách, cải tổ giáo dục đại học, có lẽ nay đã tới lúc các nhà cải cách giáo dục Việt Nam cần ‘cải tổ’ lại chính cách làm ‘cải cách’ giáo dục của họ, theo một số ý kiến quan sát từ trong nước.

Các nhà cải cách muốn nâng cao chất lượng đầu ra của giáo dục đại học hàng chục năm qua.

Hôm 01/8, nhà nghiên cứu về chính sách giáo dục và đào tạo, Tiến sỹ, Bác sỹ Trần Tuấn, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và đào tạo Phát triển cộng đồng (RTCCD) từ Hà Nội nói với BBC về lý do tại sao Việt Nam phải thay đổi cách làm của chính những nhà làm ‘cải tổ giáo dục đại học’.

Ông nói: “Khi một vấn đề anh đã giao cho một nhóm người giải quyết, mà vấn đề đó anh không giải quyết được, có nghĩa là phương pháp, cách thức thực hiện là sai.

“Bởi vì nếu anh giải quyết được, dù chỉ là một phần, phải có một sự tiến bộ và xã hội sẽ thừa nhận và đánh giá điều đó. Nhưng chúng ta thấy rằng trong suốt nhiều năm qua, xã hội nhận thức rằng không những không tiến triển, mà chất lượng ngày càng đi xuống.”

Trách nhiệm cá nhân

Theo chuyên gia này, việc xem xét lại cách thức và hiệu quả của các nhà cải cách giáo dục đại học phải mở đầu từ đặt câu hỏi về cách nhìn, quan điểm và triết lý giáo dục của họ.

Ông Tuấn nói: “Ở đây có người nói rằng phải bắt đầu từ cách đề cập, từ phương pháp luận, nhưng tôi cho rằng đầu tiên phải là từ cách nhìn về giáo dục và thế nào là triết lý, quan điểm về giáo dục vì tôi thấy rất rõ ràng là có vấn đề.”

Trước câu hỏi, phải chăng một phần trở lực nằm ở các vấn đề như hạn chế tư duy, tầm nhìn, sức ỳ bộ máy hay mặt khác là do sự cản trở, chống đối nào đó của các nhóm lợi ích muốn chống lại cải tổ thực sự để hưởng lợi, nhà phân tích nói:

BBCquote
Khi một vấn đề anh đã giao cho một nhóm người giải quyết, mà vấn đề đó anh không giải quyết được, có nghĩa là phương pháp, cách thức thực hiện là sai.Tiến sỹ, Bác sỹ Trần Tuấn

“Tôi cho rằng quy được về trách nhiệm cá nhân cả. Nếu chọn được những người thực sự tâm huyết với giáo dục, với đất nước cho vào vị trí đó, thì chắc chắn nó sẽ thay đổi.

“Cho nên làm sao tìm được những người tâm huyết thực sự với vấn đề giáo dục của đất nước và đặt cho họ vào đúng vị trí, bài toán hiện nay là vấn đề chọn người, nhân sự lãnh đạo.

“Các nhân sự lãnh đạo chịu trách nhiệm, dám chịu trách nhiệm và tâm huyết về giáo dục, cái đấy là phải làm được – điều thứ nhất là chọn người,” ông Tuấn nhấn mạnh.

Trở lực tâm lý

Cũng hôm thứ Sáu, PGS. TS. Mạc Văn Trang, nguyên chuyên viên nghiên cứu của Viện Khoa học Giáo dục thuộc Bộ Giáo dục & Đào tạo chia sẻ với BBC về khía cạnh mà ông gọi là trở lực tác động tới ‘tâm lý’ của các nhà cải cách.

VN kỳ vọng đưa giáo dục đại học đạt chuẩn khu vực và từng khu vực tiến tới chuẩn quốc tế.

Ông Trang nói: “Cái tâm lý thứ nhất là do hệ thống quản lý, lãnh đạo nhà nước không tôn trọng các nhà khoa học, tính độc lập, tự do sáng tạo của các nhà khoa học, thế cho nên họ luôn luôn dè chừng.

“Họ vượt quá cái đó thì không được ủng hộ, vượt quá những giới hạn mà nhà nước quản lý thì không được ủng hộ thế và có khi còn nguy hiểm.

“Họ được giao nhiệm vụ thì họ hoàn thành nhiệm vụ rồi báo cáo thôi, còn họ không được hoàn toàn tự do để tâm huyết với điều mà mình tha thiết.”

Theo nhà tâm lý học và chuyên gia quản lý giáo dục này, tự chủ đại học là một nhân tố điều kiện quan trọng, nhưng có thể giáo dục Việt Nam còn cần những giải phải đồng bộ hơn cho một cải tổ hiệu quả và đúng nghĩa.

Ông Trang nói: “Tự chủ đại học là yếu tố quan trọng để cho nó tự phát triển, bởi vì khi nào được tự chủ, tự do và để họ cạnh tranh với nhau, thì họ mới có điều kiện để phát triển.

“Thế nhưng chính phủ và xã hội phải tạo điều kiện cho họ. Thí dụ nhà khoa học phải đủ lương để họ sống, họ nghiên cứu khoa học, thì những đề tài họ phải được theo đuổi lâu dài, chứ không phải mỗi nằm lại làm một đề tài, rồi hết lại phải báo cáo hết tiền, thì khó lắm.

“Cho nên tự chủ là rất quan trọng, nhưng tự chủ ấy phải có những con người đủ tầm cỡ và đủ tâm huyết với khoa học và phải được chính phủ và xã hội ủng hộ, thì mới có thể làm được.”

Tăng số nhưng giảm lượng?

BBCquote
Họ được giao nhiệm vụ thì họ hoàn thành nhiệm vụ rồi báo cáo thôi, còn họ không được hoàn toàn tự do để tâm huyết với điều mà mình tha thiết.PGS. TS. Mạc Văn Trang

Hôm 01/8, từ Sài Gòn, bên lề một Hội thảo về giáo dục Đại học Việt Nam do Sứ quán Hoa Kỳ và một Nhóm đối thoại giáo dục tổ chức, TS. Vũ Thị Phương Anh, một nhà nghiên cứu về giáo dục có tham luận, nói với BBC về phương pháp luận cải cách.

Bà Phương Anh nói: “Những cái nguyên xi ở các nước tiên tiến đem vào Việt Nam như hiện nay thì rõ ràng là không được rồi, và tất nhiên là giữ khư khư như hiện nay cũng không được luôn.

“Vậy phải tìm ra xem là lâu dài phải làm cái gì và trước mắt thì phải làm cái gì.”

Theo nhà phân tích, trong suốt mấy chục năm liên tục tuyên bố cải tổ giáo dục, điểm quan trọng nhất mà Việt Nam đã đạt được là tăng được một số mặt về ‘lượng’ nhưng vẫn chưa đạt được ‘chất’ như các mục tiêu được kỳ vọng.

Bà nói: “Tôi nghĩ rằng cái lớn nhất có thể đã đạt được là tăng số lượng, đến nỗi bây giờ có tình trạng là thừa chỉ tiêu. Trước đây là các trường phải đi chạy chọt để có chỉ tiêu để tuyển sinh, thì một hai năm nay, nhất là trường tư, hay cả trường công yếu yếu, thì cũng đã thừa chỉ tiêu, tức là số quota được cấp nhiều hơn số sinh viên muốn vào.

Việt Nam tăng về mặt ‘số lượng’, nhưng lại giảm về chất lượng trong giáo dục đại học, theo chuyên gia.

“Như vậy rõ ràng mình đã khá thành công về mặt số lượng. Về chất lượng, nếu ai đó nói chất lượng đi ngược với số lượng thì tôi nghĩ là cũng oan, nhưng đúng là rất là lôm côm.

“Tức là những trường đào tạo tốt từ xưa thì vẫn còn tốt, nhưng vì số lượng người đi học, số lượng trường tăng lên, cho nên nếu tỷ lệ cái tốt, ngày xưa là 50% là tốt, 50% là thường, thì bây giờ tỷ lệ đào tạo có chất lượng gọi là có yên tâm thì nó càng ngày càng giảm đi.”

Và cơ hội tranh luận

Hôm thứ Sáu, một chuyên gia khác, từ Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, nói với BBC về điều mà ông tin là Việt Nam cần quan tâm nhiều hơn tới một triết lý khi tiến hành cải tổ giáo dục.

BBCquote
Bất cứ việc học tập kinh nghiệm của nước ngoài, thì mình đều phải xem xét nó trong một bối cảnh về thể chế, về văn hóa của nước mình.TS. Bạch Tân Sinh

TS. Bạch Tân Sinh, từ Viện Chiến lược, Chính sách Khoa học & Công nghệ, nói: “Thực ra việc du nhập bất cứ một mô hình nào vào mà không hiểu được bối cảnh trong nước, thì tôi cho rằng nó đều thất bại.

“Do vậy tôi nghĩ rằng bất cứ việc học tập kinh nghiệm của nước ngoài, thì mình đều phải xem xét nó trong một bối cảnh về thể chế, về văn hóa của nước mình, và việc ấy tôi cho rằng, cái ấy có thể xuất phát từ thay đổi thường xuyên, những thay đổi nhỏ.

“Tuy nhiên để có được một thay đổi lớn thì nó đòi hỏi phải có một sự trao đổi trong xã hội rất là cởi mở, để có được sự đồng thuận.

“Khi có được sự đồng thuận ấy, tôi nghĩ nó sẽ phát huy được những thay đổi, những đổi mới của từng cá nhân trong xã hội và việc đó sẽ được thực hiện khi chúng ta có nhiều cơ hội để tranh luận về quá trình phát triển của đất nước,” TS Sinh nói với BBC.

Hàng nghìn cử nhân xếp hàng nộp hồ sơ thi công chức ở Hà Nội. (Ảnh: VOV)
Advertisements

Leave a comment

Filed under Uncategorized

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s