Quyền im lặng sẽ giảm án oan

LS Trương Trọng Nghĩa (Pháp luật TPHCM ) – Những vụ án oan gần đây khiến dư luận nghi ngờ do bức cung, nhục hình nên người ta nhắc nhiều đến quyền im lặng và quyền được có luật sư. Có lẽ đã đến lúc nước ta phải ghi nhận quyền này.

� Xem lại: Quyền im lặng (bài của Thùy Linh)


Sắp tới bị can, bị cáo sẽ có quyền gặp luật sư ngay sau khi bị bắt? Ảnh minh họa: THANH TÙNG

LTS: Trong tố tụng hình sự, yếu tố cơ bản để giảm thiểu án oan là tránh việc bị can, bị cáo bị mớm cung, ép cung, nhục hình. Ởcác nước, ngay khi bị bắt, người bị tình nghi và bị can được hưởng quyền im lặng cho đến khi có luật sư.

Quyền này đã hình thành trong pháp luật Việt Nam hay chưa và thể hiện như thế nào?… Pháp Luật TP.HCM trân trọng giới thiệu bài viết của luật sư Trương Trọng Nghĩa – đại biểu Quốc hội, Phó Chủ tịch Liên đoàn Luật sư Việt Nam.

Tôi cho rằng quyền im lặng chỉ là cách nói vắn tắt và chúng ta không nên bó gọn trong ba từ này mà phải hiểu bản chất của nó là quyền không khai báo cho đến khi có mặt luật sư của mình. Theo đó, người bị tạm giữ, bị can được quyền không khai cho đến lúc có luật sư chứ không phải im lặng mãi. Nó cũng đồng nghĩa với chuyện nếu anh từ bỏ quyền im lặng thì những lời khai sau đó của anh sẽ được dùng để chống lại anh tại tòa.

Gốc rễ là nguyên tắc suy đoán vô tội

Về lý luận, gốc của quyền này chính là nguyên tắc suy đoán vô tội (presumption of innocence) – một nguyên tắc nhân đạo, tôn trọng quyền con người và có tính phổ quát ở nhiều hệ thống pháp luật từ xưa đến nay. Suy đoán vô tội nói gọn lại là việc thông qua cơ quan công tố, nhà nước có trách nhiệm chứng minh một người có phạm tội hay không, còn người bị tình nghi có quyền nhưng không có nghĩa vụ phải chứng minh mình vô tội. BLTTHS Việt Nam cũng quy định rõ như vậy.

Nguyên tắc suy đoán vô tội bắt nguồn từ luật La Mã cổ đại, cách đây trên 15 thế kỷ nhưng nó gần như đã bị vô hiệu trong các tòa án vô nhân đạo suốt thời Trung cổ và chỉ được phục hưng kể từ các cuộc cách mạng tư sản ở châu Âu. Sự phục hồi nguyên tắc suy đoán vô tội trong pháp luật tố tụng hình sự dẫn đến sự ra đời của một nguyên tắc khác chi phối toàn bộ pháp luật hình sự và tố tụng hình sự của thế giới cho đến ngày nay, đó là quyền không tự tố giác (right against self-incrimination)…

Quyền được suy đoán vô tội và quyền không tự tố giác đã được ghi nhận trong Công ước Quyền dân sự và chính trị của Liên Hiệp Quốc mà Việt Nam là thành viên (cùng với nhiều đặc quyền khác của nghi can, bị can, bị cáo như có quyền được biết mình bị buộc tội gì, quyền có luật sư, quyền không bị bức cung, nhục hình…). Quyền im lặng cho đến khi có luật sư của mình chính là sự rút gọn của các quyền trên đây, được quy định trong pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới. Ở Đức, quyền im lặng được bảo đảm rất rộng: Bị cáo có quyền không khai báo, không nhận tội từ khi bị tình nghi đến khi bị xét xử.

Tuy nhiên, thực tế không phải lúc nào cơ quan điều tra cũng tuân thủ nguyên tắc suy đoán vô tội và quyền có luật sư. Do đặc thù của người cảnh sát là phải chứng kiến nhiều tội ác và luôn vất vả trong việc phòng, chống tội phạm, từ đó nảy sinh định kiến và nếp tư duy “suy đoán có tội” đối với người có dấu hiệu phạm tội. Vì thế, trong quá trình điều tra, họ thường mớm cung, gài bẫy, thậm chí bức cung trước khi người đó có luật sư.

Sự cần thiết của quyền im lặng

Gần đây nổi lên một số vụ bị kết tội oan, sai do bức cung, mớm cung nên người ta nhắc nhiều đến quyền im lặng và quyền được có luật sư. Tôi cho rằng đã đến lúc chúng ta phải thừa nhận và thực hiện những yêu cầu thuộc về nguyên tắc như trên để thực thi triệt để nguyên tắc suy đoán vô tội.

Muốn vậy, chúng ta phải bổ sung quy định theo hướng cho nghi can, bị can được gặp luật sư ngay sau khi bị bắt, phải giảm thiểu tối đa thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa và nghiêm trị những hành vi cố tình trì hoãn quyền gặp luật sư của nghi can và bị can. Quyền có luật sư chỉ có ý nghĩa khi nghi can được gặp luật sư và quyền chưa khai báo nếu chưa có luật sư. Nếu các quyền này được bảo đảm thì nghiệp vụ điều tra được nâng lên. Khi hồ sơ điều tra đã “chuẩn” rồi thì quá trình truy tố, xét xử cũng nhanh và chính xác hơn. Khi ấy, tình trạng trả hồ sơ để điều tra bổ sung và án xử đi xử lại như hiện nay cũng được khắc phục đáng kể.

Về việc gắn camera trong phòng hỏi cung, tôi cho rằng nó chỉ có tác dụng hạn chế chứ không loại trừ hẳn việc ép cung, nhục hình. Bởi chuyện ép cung, nhục hình không chỉ xảy ra lúc lấy lời khai và một khi điều tra viên đã muốn ép cung thì camera cũng vô hiệu.

(Theo tôi biết, ở Trung Quốc, bên cạnh chuyện có mặt luật sư họ còn quy định cách thức gặp bị can, bị cáo để tư vấn mà không bị nghe lén. Cụ thể, việc tiếp xúc đó bị giám sát về hình ảnh nhưng không bị kiểm soát về nội dung.)

Theo tôi, các biện pháp trên sẽ góp phần hạn chế án oan, sai. Muốn dần loại bỏ chúng thì đòi hỏi phải đổi mới về nhận thức, cơ quan điều tra không được coi những người tình nghi là tội phạm. Quá trình điều tra là câu hỏi mở vì phải tìm hiểu xem họ có tội hay không chứ không phải chỉ tìm chứng cứ để chứng minh người đó có tội.

Nguồn gốc của quyền im lặng

Những năm 1960 ở Mỹ xuất hiện một án lệ mang tên cảnh báo Miranda. Đó là một vụ án mà thủ phạm là Ernesto Miranda, sinh năm 1941 (13 tuổi đã bị bắt và sau đó liên tục phạm tội). Năm 1962, có một số vụ bắt cóc và cưỡng dâm các cô gái trẻ. Sau khi cảnh sát đưa đi nhận dạng tiếng nói của nạn nhân, Miranda thừa nhận mình là thủ phạm. Miranda viết bản tự thú và trên đầu mỗi tờ giấy đều có in sẵn những dòng chữ rằng người khai hoàn toàn tự nguyện, không bị đe dọa, lừa dối hay được hứa sẽ được giảm tội. Nhưng Miranda không được thông báo rằng mình có quyền mời luật sư.

Tháng 6-1963, Miranda phải ra tòa với tội danh cướp và cưỡng dâm. Luật sư Alvin Moore được chỉ định biện hộ đã phản đối tòa kết án dựa trên việc sử dụng lời khai của Miranda để chống anh ta. Tháng 4-1965, Tòa án Tối cao bang Arizona xử phúc thẩm tuyên y án.

Giữa năm 1966, Chánh án Tòa án Tối cao Mỹ Earl Warren ra phán quyết với nội dung: Một người bị bắt giữ trước khi bị thẩm vấn phải được thông báo một cách rõ ràng rằng họ có quyền giữ im lặng và bất kỳ điều gì người đó nói ra sẽ được sử dụng để chống lại người đó trước tòa án. Người đó phải được thông báo anh ta có quyền tư vấn và có luật sư ở bên cạnh trong khi thẩm vấn (nếu nghèo sẽ được chỉ định luật sư). (Sau này, tòa tuyên Miranda phạm tội do có những bằng chứng khác.)

Luật sư gặp bị cáo: Chuyện trần ai!

Pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam chưa quy định quyền im lặng. Nhưng quyền có luật sư thì luật quy định: Khi bị tạm giữ, trong vòng 24 giờ người tạm giữ có quyền có luật sư, nếu là tạm giam thì trong ba ngày. Nội việc quy định như trên đã không thể bảo đảm cho việc phải có luật sư ngay sau khi bị bắt do thời hạn quá lâu (trong khi ở các nước, chỉ cần một cú điện thoại là luật sư có mặt và được tiếp xúc ngay với người bị bắt). Đã vậy, thực tế thời hạn này cũng không cơ quan điều tra nào tuân thủ, nhiều vụ án chỉ khi kết thúc điều tra thì luật sư mới được gặp bị can.

Muốn quyền có luật sư được bảo đảm thì điều kiện cần và đủ là người bị bắt phải có quyền được gặp luật sư. Vướng mắc lớn nhất của chúng ta hiện nay là luật quy định người bị tạm giam, tạm giữ không được gặp luật sư trước khi luật sư có giấy chứng nhận bào chữa. Nói dễ hiểu, luật sư không được tiếp xúc riêng với người bị bắt để hỏi xem anh có cần tôi hay không. Nhưng luật lại quy định muốn có giấy chứng nhận bào chữa thì phải có sự đồng ý của người bị bắt. Quy định này tạo ra vòng luẩn quẩn như chuyện “con gà quả trứng”.

Gần đây, Thông tư số 70 năm 2011 của Bộ Công an có mở rộng quy định điều tra viên phải giải thích cho người bị bắt quyền có luật sư và cho phép người nhà của họ cũng được yêu cầu luật sư. Thế nhưng thực tế cơ quan điều tra hay chìa ra tờ giấy từ chối luật sư của nghi can, khi gặp trực tiếp hỏi thì các nghi can nói họ không được điều tra viên phổ biến về quyền của mình.

Quyền Im Lặng

Thùy Linh (Nhật&Nguyệt WP) 11/2012 – Mấy bữa nay dư luận lại được dịp náo loạn về vụ cô bé Nguyễn Phương Uyên bị bắt về tội “tuyên truyền chống phá nhà nước” cùng Đinh Nguyên Kha. Có luồng dư luận cho rằng Uyên, Kha dại dột khi làm những việc sai trái tày đình. Nhiều người thì không tin vào những chứng cứ mà cơ quan điều tra đưa ra và lên tiếng ủng hộ em. Còn khá nhiều người khác hoài nghi và phân vân…Vụ án này cũng giống như nhiều vụ án liên quan đến an ninh quốc gia luôn khiến dư luận bị nhiễu loạn, chia rẽ, thậm chí dẫn đến công kích, thù hằn lẫn nhau. Chưa khi nào nhân tâm con người trong cùng đất nước bị chia rẽ, phân rã và đối địch nhau như lúc này. Có lẽ vẫn không nằm ngoài hai chữ mà nói rất nhiều những không cải thiện được bao nhiêu, đó là sự minh bạch. …


VOAVụ bắt giữ cô Uyên xảy ra giữa lúc Bộ công an Việt Nam và Trung Quốc
cam kết tăng cường hợp tác chống tội phạm đe dọa an ninh-trật tự hai nước.

Sự thiếu minh bạch trước hết ở điều luật 88 dành cho tội “tuyên truyền chống phá nhà nước”. Nếu nêu đích danh, công khai và chia sẻ suy nghĩ về những yếu kém, hạn chế, sự xấu xa, bệ rạc… của chính quyền trong việc điều hành đất nước mà mắc tội tuyên truyền chống phá thì hầu hết người dân Viêt Nam đều mắc phải tội này. Vậy đâu là giới hạn để phân biệt tội phạm với những ý kiến phản biện, thậm chí là lời than phiền, bất mãn về sự không hài lòng với chính quyền hiện tại? Đưa ra một điều luật để khép tội công dân không thể là những khái niệm co dãn, hoặc tùy thuộc vào quan niệm của một người, vài người hay nhóm người, nhất là những người có nhiều quyền lợi gắn với chính quyền. Điều 88 này còn tồn tại sẽ còn là vòng kim cô siết lên đầu bất cứ ai có ý tưởng phản biện, có ý muốn bất mãn, có sự bất bình, phẫn nộ về chính quyền. Và thực tế số người này đang ngày càng gia tăng trước thực trạng đất nước vô cùng bê bối, tê liệt, lụn bại, khủng hoảng, đàn áp vô cớ…

Việc điều tra của cơ quan điều tra muốn thành công phải thừa nhận là có yếu tố bí mật. Nhưng sự bí mật nếu không bị giám sát bởi các điều luật sẽ dẫn đến việc cơ quan điều tra sẽ được trao một quyền hạn không hạn chế và việc lạm quyền là điều không thể tránh khỏi. Trường hợp của Phương Uyên vừa qua (và nhiều vụ án liên quan đến an ninh quốc gia trước đây) là minh chứng dẫn đến những suy luận về sự lạm quyền của cơ quan điều tra.

Theo những tin tức trên mạng cho thấy, mới đầu Phương Uyên bị cơ quan an ninh gọi lên làm việc. Sau đó cô bé bị giữ lại mà cơ quan an ninh không đưa ra bất cứ lý do nào, thậm chí đã gây dư luận về việc cô bé bị bắt cóc. Hơn 10 ngày sau, do áp lực về phía gia đình cũng như bạn bè của Phương Uyên cơ quan an ninh mới nói chung chung là cô bé bị điều tra về tội xâm phạm an ninh quốc gia. Tới lúc có thư thỉnh nguyện của 144 nhân sỹ, trí thức gửi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thì câu chuyện khó giữ được bí mật như ban đầu. Lúc này cơ quan an ninh mới tổ chức họp báo để trưng ra các chứng cứ: khẩu hiệu, chất nổ… Và cùng lúc báo chí chính thống vào cuộc để luận tội Phương Uyên, Nguyên Kha cùng tổ chức “Tuổi trẻ yêu nước” nào đó. Nhưng dư luận đang tiến triển theo nhiều chiều hướng khác nhau, khó kiểm soát, khó định hướng, không dừng lại những chứng cứ mà cơ quan điều tra đưa ra. Một nhân vật xuất hiện trong lời nhận tội của Uyên, Kha (do cơ quan an ninh quay video) trên BBC, lan truyền trên mạng là Nguyễn Thiện Thành đầy bí ẩn. Có một Thiện Thành có thật đang bị truy nã và lẩn trốn ở Thailand? Liệu Thành có tham gia vào việc xúi giục, tiếp tay cho Uyên, Kha phạm tội? Hay liệu có ai đó lấy tên của Thành để làm một việc như mọi người hay nói là “nuôi án”? Việc này nếu không làm rõ được thì đương nhiên mọi tội lỗi (theo bằng chứng của cơ quan điều tra đưa ra) đổ lên đầu Uyên, Kha là khó tránh khỏi.

Một sự thiếu minh bạch không thể không bàn, nhất là khi soi vào trường hợp của Uyên, Kha là “quyền được im lặng” khi họ bị bắt. Ở các nước văn minh, phát triển thì quyền im lặng của người đang thuộc diện bị điều tra được thừa nhận và tôn trọng. Ngay khi họ bị bắt giữ (kể cả quả tang) hay bị điều tra thì họ có quyền im lặng không hợp tác với cơ quan điều tra cho đến khi được hỗ trợ của luật sư của họ. Vị luật sư này được tham gia ngay từ đầu vào quá trình điều tra để bảo đảm quyền lợi cho thân chủ họ và tránh sự áp đặt, lệch lạc vì ý muốn chủ quan của cơ quan điều tra. Những người trẻ tuổi, non nớt, thiếu kinh nghiệm sống lẫn kinh nghiệm xử lý tình huống bất trắc như Uyên càng cần sự hỗ trợ về pháp luật. Nhưng cho đến giờ phút này, không ai được tiếp cận với Uyên trừ những người đang điều tra và buộc tội em. Người ta có quyền hoài nghi về những chứng cứ do cơ quan điều tra đưa ra, có quyền hoài nghi về tính khách quan cũng như tôn trọng sự thật của cơ quan điều tra. Những người bi quan còn nghi ngờ về sự ép cung, mớm cung, tra tấn tâm lý, gây hoảng loạn dẫn đến khai lung tung, cả những điều bất lợi cho mình hoặc cả những điều không có trong thực tế… Thực tế đã chứng minh những chuyện như thế từng xảy ra.

Quyền im lặng đến bây giờ vẫn chưa được pháp luật Việt Nam ủng hộ và đưa vào áp dụng trong thực tế. Nhiều trường hợp các bị can còn bị ép phải viết giấy từ chối luật sư. Nếu thực tế quyền im lặng trở thành điều luật bắt buộc cần thiết trong quá trình tố tụng thì sẽ hạn chế rất nhiều mối nghi ngờ kết quả điều tra.

Sự thiếu minh bạch trong điều tra các vụ án, nhất là các vụ án an ninh đều theo một lý lẽ: bảo vệ chế độ. Nếu đây là mục đích tốt đẹp thì việc công khai càng chỉ có lợi cho cơ quan điều tra. Còn nếu cơ sở lý luận mơ hồ, thiếu nền tảng thuyết phục thì nó trở thành cái bẫy giăng khắp nơi khiến ai cũng có thể bị sập. Người như Uyên, Kha sẽ bị qui tội “tuyên truyền chống phá nhà nước”, thậm chí manh nha tội “khủng bố”. Người ủng hộ hai em sẽ bị qui tội là ủng hộ cho tội phạm và khủng bổ. Bản thân ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, người được mọi người gửi gắm đơn kêu cứu cũng bị rơi vào cái bẫy khiến ông rất khó lựa chọn cách ứng xử.

Hiện tại chưa có điều luật nào giúp người ta tránh được “cái bẫy” mà việc kết tội dựa trên tính thiếu minh bạch của một nền pháp luận vừa mơ hồ, vừa đầy tính chủ quan như hiện nay. Nếu nói nên tin tưởng vào cơ quan điều tra thì không khác gì nói điều luật 88 là hoàn toàn chính xác về pháp luật. Mặc dù tôi vẫn luôn tin tưởng, trong số các điều tra viên hiện nay, vẫn còn những người giữ được lương tâm ngay thẳng và tử tế.

Tôi vô cùng hoài nghi việc Phương Uyên, Nguyên Kha có những hành động rải truyền đơn là do cần tiền, cần laptop… như cơ quan điều tra đưa ra. Bởi chứng cứ này vẫn chỉ là lời buộc tội từ một phía.

Tôi vô cùng hoài nghi hai cô cậu trẻ tuổi đó chế tạo chất nổ để khủng bố như cơ quan điều tra trưng ra trước công luận. Và tôi cũng hoài nghi hơn 2kg chất nổ đó là của hai em…

Tôi chỉ tin khi nào Phương Uyên, Nguyên Kha được bảo vệ bằng quyền im lặng cho đến lúc được sự hỗ trợ của các luật sư của các em, để các em cất lên tiếng nói của mình, được quyền phản biện kết luận buộc tội của cơ quan điều tra… Tôi sẽ tự đánh giá sự thật vụ án này qua lời nói của các em cùng với chứng cứ của cơ quan điều tra.

Còn hiện tại tôi vẫn vote cho Phương Uyên về một sự thật: em đã bị đối xử thiếu công bằng cho đến giờ phút này. Và thật sự em chưa được pháp luật hỗ trợ để chứng minh cho mình ở bất cứ khía cạnh nào.

Advertisements

Leave a comment

Filed under Uncategorized

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s