Giai cấp mới VI

4.

Nghệ thuật cũng chịu chung số phận giống như khoa học.

Trong nghệ thuật sự tầm thường, những hình thức và quan niệm cũ rích được coi là khuôn mẫu bất di bất dịch, là đỉnh cao. Cũng dễ hiểu thôi: không thể có nghệ thuật thiếu tư tưởng, thiếu tương tác với môi trường xung quanh. Không có tác phẩm nghệ thuật lớn nào mà không có va chạm với những cấm đoán hoặc không bị giới cầm quyền chóp bu lên án. Chính vì muốn nắm độc quyền đối với nhận thức của người dân cũng như những hạn chế và ngu dốt của họ mà cộng sản thường có thái độ bảo thủ đối với nghệ thuật. Biểu hiện dân chủ nhất của một nhà lãnh đạo cộng sản đối với trào lưu nghệ thuật mới là sự công nhận của ông ta rằng mặc dù không hiểu nhưng ông ta cho rằng có thể cho phép. Quan điểm của Lenin đối với chủ nghĩa vị lai của Mayakovski đã là như thế.

Mặc dù vậy, bên cạnh sự hồi sinh về kĩ thuật, trong các nước cộng sản lạc hậu còn có sự hồi sinh cả về văn hoá cho dù dưới dạng văn hoá tuyên truyền, nhưng dù sao nhân dân cũng dễ tiếp cận hơn. Giai cấp mới quan tâm đến vấn đề này vì quá trình công nghiệp hoá đòi hỏi lao động phải có tay nghề cao. Đồng thời với tiến trình này là việc hình thành cơ chế uốn nắn nhận thức của nhân dân. Hệ thống trường học, các lớp xoá nạn mù chữ, các câu lạc bộ chuyên nghiệp và nghiệp dư phát triển rất nhanh, nhiều khi vượt cả nhu cầu và điều kiện thực tế. Dù sao thì sự tiến bộ trong lĩnh vực này là không thể chối cãi.

Ngay sau cách mạng, trong giai đoạn khi mà giai cấp cầm quyền còn chưa kịp giày xéo lên toàn thể xã hội thì thường có một số tác phẩm lớn. Đấy là Liên Xô những năm 30 và Nam Tư hiện nay. Cách mạng dường như đã đánh thức các tài năng, vốn là con đẻ của cách mạng, đang mơ màng, trái với ước muốn của chế độ chuyên chế trong việc đè nén những tài năng này.

Có hai phương cách đè nén: đấu tranh chống các trào lưu tư tưởng mới và đấu tranh chống các hình thức thể hiện mới.

Dưới thời Stalin, tất cả các hình thức không hợp khẩu vị lãnh tụ đều bị đàn áp. Mà khẩu vị của ông ta phải nói là không được tinh tế lắm. Tuân theo quan niệm chính thống về hình thức cũng là một việc bắt buộc, hệt như việc phải học thuộc lòng các luận điểm chủ yếu vậy.

Tất nhiên việc tuân theo các hình thức nhất định không phải lúc nào cũng được thực hiện vì những hình thức này không phải là đặc trưng của chủ nghĩa cộng sản. Năm 1925 Đảng cộng sản Liên Xô ban hành nghị định cho rằng Đảng không theo đuổi một xu hướng văn học nghệ thuật cụ thể nào. Đồng thời Đảng vẫn tiếp tục “giúp đỡ về mặt tư tưởng”, nghĩa là vẫn tiến hành theo dõi về mặt chính trị và tư tưởng các nghệ sĩ. Đấy là mức độ dân chủ tối đa đối với văn học nghệ thuật của chủ nghĩa cộng sản. Lãnh đạo Nam Tư hiện cũng có quan điểm như vậy. Sau năm 1953, cùng với việc xa rời các hình thức dân chủ và trở về với chủ nghĩa quan liêu trong quản lí, các thành phần thô lậu và phản động lại tiến hành chiến dịch chê bai, truy bức cái mà họ gọi là “trí thức tiểu tư sản” để thực hiện cho được mục đích là kiểm soát cả các hình thức trong lĩnh vực nghệ thuật nữa. Toàn bộ giai cấp trí thức đã đồng loạt đứng dậy thách thức chế độ. Chế độ đã phải lùi một bước. Trong một tuyên bố của mình. Kardel nhấn mạnh rằng Đảng không bắt buộc các nghệ sĩ phải theo một hình thức nào, nhưng không cho phép tuyên truyền phản cách mạng, nghĩa là không cho phép những hình thức mà chế độ cho là “phi xã hội chủ nghĩa”. Thế là vô tình ông ta đã nhắc lại nghị định năm 1925 của Liên Xô đã nói ở trên. Đấy cũng là “mức trần” dân chủ mà Nam Tư dành cho lĩnh vực văn học nghệ thuật, nhưng thái độ của các đa số lãnh tụ đối với lĩnh vực này thì không thay đổi. Không bao giờ! Trong thâm tâm, họ luôn cho rằng giới văn nghệ sĩ là tầng lớp “tiểu tư sản”, không đáng tin. Tờ báo lớn nhất (tờ Chính sách số ra ngày 25 tháng 5 năm 1954) trích thuật lời Tito như một chân lí bất biến: “Một cuốn sách giáo khoa có ích bằng mấy cuốn tiểu thuyết”. Những phong trào phê phán các “xu hướng đồi truỵ”, các “quan điểm thù địch” vẫn thường diễn ra trên các phương tiện truyền thông đại chúng.

Khác với Liên Xô, nền văn học nghệ Nam Tư đã có nhiều hình thức thể hiện sự bất bình, lo lắng của xã hội. Điều đó cho đến nay vẫn không được phép ở Liên Xô. Có thể nói trên đầu nền văn học nghệ thuật Nam Tư vẫn treo lơ lửng một cái kiếm, nhưng ở Liên Xô thì mũi kiếm đã xuyên trúng tim.

Sự tự do tương đối về mặt hình thức biểu hiện không làm cho văn nghệ trở thành hoàn toàn tự do vì một lí do đơn giản là bất kì một tác phẩm nghệ thuật chân chính nào cũng nhất định phải thể hiện được các tư tưởng mới. Thế mà dù có được tự do đến đâu thì vẫn còn đó mâu thuẫn giữa hình thức tương đối tự do đó với việc kiểm soát gắt gao về mặt tư tưởng. Thỉnh thoảng mâu thuẫn này lại bùng lên: khi thì dưới hình thức phản ứng của chế độ với “những tư tưởng phản động”, khi thì dưới hình thức phản kháng của văn nghệ sĩ chống lại sự đàn áp. Đấy chính là sự đối đầu giữa xu hướng độc quyền của bên này và ước vọng sáng tạo của bên kia.

Thực chất đây là mâu thuẫn giữa đòi hỏi của tự do khám phá và giáo điều cộng sản được chuyển sang lĩnh vực văn nghệ.

Tất cả các tư tưởng mới đều phải bị kiểm soát, phải được cắt gọt cho vừa “khung an toàn”. Thực tế đã là như thế.

Các lãnh tụ cộng sản không thể giải quyết được mâu thuẫn này cũng như nhiều mâu thuẫn khác nữa. Như chúng ta đã thấy, họ chỉ có thể nới lỏng sợi dây trói buộc, nhưng không thể dành cho văn nghệ sự tự do đích thực được.

Do mâu thuẫn này mà trong chế độ cộng sản vấn đề vai trò của văn nghệ trước những đề tài do cuộc sống đặt ra không thể giải quyết được, cũng như các lí thuyết về sáng tạo nghệ thuật cũng không thể phát triển được.

Vì về bản chất tác phẩm nghệ thuật gần như bao giờ cũng tương tự như sự phê phán các quan hệ xã hội cũng như xã hội đương thời, sáng tạo ra các tác phẩm mang vấn đề thời sự trong chế độ cộng sản là việc bất khả. Chỉ được quyền ca ngợi cái hiện có và phê phán kẻ địch, một việc làm vô nhân đạo vì cái bị phê phán chính là cái bị săn đuổi và không có khả năng tự vệ. Trên một “cơ sở” như vậy thì việc tạo ra những tác phẩm đi vào các vấn đề thời sự, với một giá trị nào đó là việc bất khả.

Ở Nam Tư, giới chóp bu cũng như một số nhà hoạt động văn nghệ thường xuyên kêu ca rằng không có “tác phẩm phản ánh hiện thực xã hội chủ nghĩa”. Ở Liên Xô thì ngược lại, người ta “sáng tác” ra vô vàn tác phẩm mang đề tài thời sự, nhưng chính vì chúng không nói lên sự thật, giá trị của chúng rất đáng ngờ, những tác phẩm kiểu đó đã nhanh chóng rơi vào quên lãng.

Hình thức có thể khác nhau nhưng kết quả cuối cùng thì ở đâu cũng thế.

Leave a comment

Filed under Uncategorized

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s