Giai cấp mới VI

7.

Người ta thường cho rằng chuyên chính cộng sản thực hiện kì thị giai cấp một cách trắng trợn. Nhưng không hoàn toàn như vậy.

Sau cách mạng, thái độ kì thị giai cấp ngày càng giảm, còn kì thị về tư tưởng thì ngày càng tăng. Quan niệm cho rằng chính quyền thuộc về giai cấp vô sản cũng sai như quan niệm cho rằng cộng sản truy bức con người chỉ vì họ thuộc về giai cấp tư sản. Không nghi ngờ gì rằng cộng sản đánh các giai cấp hữu sản, đặc biệt là tư sản. Nhưng những người đã đầu hàng, những người đã “cải tạo” vẫn có thể tìm được một chỗ “ấm cúng” và được chính quyền “thể tất”. Hơn thế nữa, cảnh sát mật thường lựa được các gián điệp tài ba, còn các ông chủ thì tìm được đầy tớ trong số “tư sản đã cải tạo” này. Nhưng những người nghi ngờ những quan điểm và biện pháp của cộng sản thì đừng hòng được tha thứ. Ở đây thành phần xuất thân không quan trọng, chống quốc hữu hoá hay chỉ là những người quan sát vô tình cũng vậy mà thôi, tư tưởng là thống soái.

Cần phải nói thêm rằng sự truy bức các tư tưởng dân chủ và xã hội chủ nghĩa khác với cách nghĩ của tầng lớp chóp bu lại còn dữ dội hơn, mãnh liệt hơn cả cuộc đấu tranh với những quan điểm phản động nhất của những người ủng hộ chế độ cũ. Dễ hiểu vì người ủng hộ chế độ cũ không nguy hiểm bằng, quan niệm của họ hướng về quá khứ, nó có thể gây phiền phức nhưng cơ hội để phục hồi, để chiến thắng là rất nhỏ.

Sau khi nắm được chính quyền, cộng sản liền tấn công tư hữu và bằng cách đó tạo ra ảo tưởng rằng họ làm thế là vì quyền lợi của người lao động. Nhưng sau này mới rõ rằng không hoàn toàn như thế, cơ sở của những hành động đó là ước muốn thống trị, mà thống trị chỉ có thể thực hiện thông qua kì thị về mặt tư tưởng (chứ không phải giai cấp). Nếu vấn đề được đặt khác đi (thí dụ thực sự trao tài sản vào tay người lao động) thì kì thị giai cấp sẽ chiếm thế thượng phong ngay.

Sự kiên trì kì thị tư tưởng như thế có thể làm cho người ta nghĩ rằng cộng sản là một giáo phái tin tưởng tuyệt đối vào những điều răn duy vật-vô thần của mình và dùng sức mạnh ép buộc những người khác cũng tin như họ. Cộng sản hành động như một giáo phái nhưng thực ra không phải như vậy.

Hệ tư tưởng toàn trị không phải là kết quả của một hình thức quyền lực và sở hữu cụ thể. Tuy nó có đóng góp vào quá trình hình thành quyền lực và sở hữu nhưng nó là chỗ dựa vững chắc nhất của quá trình phát triển đó. Kì thị tư tưởng là điều kiện cần thiết sống còn của chế độ cộng sản.

Sẽ là sai lầm khi cho rằng những hình thức kì thị khác như chủng tộc, giai cấp, dân tộc là những kì thị nặng nề hơn kì thị tư tưởng. Bề ngoài chúng có vẻ là như thế nhưng những dạng kì thị đó chưa bao giờ đạt đến độ tinh vi và toàn diện như kì thị về tư tưởng. Những dạng kì thị đó chỉ ảnh hưởng đến những bộ phận nào đó của xã hội, trong khi kì thị tư tưởng ảnh hưởng đến toàn xã hội và từng thành viên riêng biệt. Loại thứ nhất giày xéo con người về mặt thể xác. Kì thị tư tưởng đánh vào ngay cái Người nhất trong từng cá nhân. Khủng bố về mặt tinh thần là sự khủng bố dã man và toàn diện nhất, nó là sự khởi đầu và kết thúc của mọi sự khủng bố.

Trong hệ thống cộng sản kì thị tư tưởng được thể hiện, một mặt như là sự cấm đoán những tư tưởng “không phù hợp” và mặt khác là bắt buộc chấp nhận các tư tưởng của hệ thống. Đấy chỉ là hai khía cạnh rõ nhất của sự đàn áp không bút nào tả xiết được. Tư tưởng chính là sức sáng tạo có hiệu quả nhất. Sống, lao động mà không suy nghĩ, không tưởng tượng là điều bất khả. Tuy phủ nhận nhưng cộng sản vẫn phải tính đến đặc trưng ấy của con người. Vì vậy họ mới đàn áp mọi tư tưởng “không phù hợp”, nhất là khi các tư tưởng đó được đưa ra để giải quyết những vấn đề mà xã hội đang gặp phải.

Con người có thể sống trong nghèo nàn, thiếu thốn. Nhưng người ta không thể sống mà không nghĩ, không nói lên ý nghĩ của mình. Không có gì đau khổ hơn là buộc phải im lăng, không có sự đàn áp nào dã man hơn việc bắt người ta phải từ bỏ những tư tưởng của mình và “nhai lại” suy nghĩ của kẻ khác.

Hạn chế tự do tư tưởng không chỉ là cuộc tấn công vào những nhóm chính trị hay xã hội cụ thể, mà là cuộc tấn công vào tính ngưới, tính nhân bản của con ngưới nói chung.

Dù thế, khát vọng tự do, tự do tư tưởng, khát vọng cải thiện và mở rộng sản xuất của con người không bao giờ phai nhạt, nó luôn luôn được thể hiện như một mệnh lệnh của những lực lượng nhất định. Nếu trong chế độ cộng sản những mệnh lệnh đó chưa có biểu hiện rõ ràng thì cũng không có nghĩa là chúng không tồn tại. Điều đó chỉ có nghĩa là chúng đang hình thành, đang vươn lên từ trong lòng nhân dân mà thôi. Sự áp bức toàn trị dường như đã xoá tan ranh giới giữa các tầng lớp nhân dân, nhân dân đang tập hợp lại để đòi tự do. Trong đó có tự do tư tưởng.

Lịch sử sẽ tha thứ cho những người cộng sản nhiều tội lỗi mà họ đã phạm do hoàn cảnh, do nhu cầu tự vệ, nhu cầu sống còn. Nhưng bóp nghẹt mọi quan điểm khác biệt, thái độ bất dung, sự độc quyền về tư tưởng chỉ để nhằm bảo vệ những quyền lợi ích kỉ của họ là những tội lỗi không thể tha thứ. Chủ nghĩa cộng sản sẽ phải đứng chung một hàng với những tội lỗi nhục nhã khác trong lịch sử: toà án giáo hội và các đống lửa thiêu người thời Trung cổ. Cộng sản có thể giành được vị trí “vinh quang nhất” trong đám ấy.

Advertisements

Leave a comment

Filed under Uncategorized

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s