Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay 15

Kỳ 43: Từ văn kiện tuyệt mật chống VN đến 600 ngày tăm tối của Mao.
Kỳ 44: Mao muốn chinh phục trái đất?
Kỳ 45: Bị xử tội chết chỉ vì ăn trộm… một trái ổi!

Kỳ 43: Từ văn kiện tuyệt mật chống VN đến 600 ngày tăm tối của Mao

Giao Hưởng – Đăng Bởi Một Thế Giới – 19-08-2014

Đời Mao, có 600 ngày phải chìm trong bóng tối bởi mắt bị mờ dần, rồi không nhìn thấy hẳn – bất hạnh đó đến liền ngay sau những ngày đầu Mao “đụng tới” Hoàng Sa…


Ảnh và chú thích của Tư liệu VNCH tháng 3.1974: Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt HQ.16
từ Hoàng Sa trở về trong sự reo mừng của hàng ngàn người dân Việt Nam đang đón chờ.

Cuối tháng 1.1974, mắt Mao bỗng nhiên nhòa hẳn. Khoảng mươi mười lăm thước Mao thấy một người dường như “có hai ba”. Dụi mắt xong, lại thấy một người “có đến bốn năm”, rồi “sáu bảy” – tựa hồ “bóng người âm” vậy. Dần dà, Mao không thể tự xem sách báo, ngay cả khi đọc các văn kiện nếu phải viết lời phê thì “cũng phải nhờ người khác viết thay (…) cũng không thể thấy mặt những người quen thuộc xung quanh, thậm chí ngay cả người đi qua sát mặt, Chủ tịch cũng không nhìn rõ” (Trần Trường Giang, sđd ở Kỳ 8, tr. 325).

Các chuyên gia nhãn khoa hàng đầu của Trung Quốc chẩn đoán và thông báo Mao bị “đục thủy tinh thể” cả hai mắt, buộc phải phẫu thuật. Nhưng chưa thể phẫu thuật ngay, vì dạng “mù mắt” của Mao phải đợi đến giai đoạn phát bệnh hoàn toàn mới can thiệp “bằng dao kéo” được. Nên, Mao phải “tiếp tục chờ đợi trong mấy trăm ngày dài u tối” nữa – Bệnh càng nặng, đến nỗi Mao “bị mù hoàn toàn, hai chân bị phù thủng, nếu không có người dìu thì không thể đi lại được” (Trần Trường Giang, sđd, tr. 332).

Mao không cho nói với bất kỳ ai khác về chuyện Mao “không nhìn được” ngoài các nhân viên, thư ký, bác sĩ phải làm việc cạnh Mao hàng ngày, kể cả Bộ Chính trị cũng chỉ có Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình với vài ủy viên nữa biết.

Tuy thị lực “gần như bằng 0”, nhưng đầu óc Mao vẫn rất tỉnh táo, sắc sảo, tay Mao vẫn nắm chặt quân đội. Bởi quân đội là điều kiện “ắt có” để khai sinh và bảo vệ chế độ của Mao – như Mao từng tuyên ngôn: “Chính quyền vươn lên từ nòng súng”!

Ngón tay Mao độc quyền đặt lên cò súng “quốc gia”, bởi Mao không nhường cho ai vị trí Chủ tịch Quân ủy trung ương. Mao biết, nếu rời vị trí ấy Mao có thể đã bị Lâm Bưu thanh toán. Trong quá khứ, Lâm Bưu không thể ra tay được, do quyền điều động quân đội tập trung trong tay Mao, Bắc Kinh nghiêm ngặt tới mức “điều động một trung đội cũng phải được Mao phê chuẩn – Lâm Bưu là Phó Chủ tịch Quân ủy kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng cũng không được điều động một trung đội. Tổng tham mưu trưởng Hoàng Vĩnh Thắng trở xuống càng không có quyền ấy” – theo Tân Tử Lăng.

Vậy nên, Lâm Bưu không thể dùng bộ binh đánh ngược Mao. Dầu Hoàng Vĩnh Thắng thuộc vây cánh Lâm, Thắng vẫn không dám phiêu lưu tự ý cầm quân qua cửa ngõ thành phố lấy nửa bước, đừng nói tới “vẫy tay vung đạn” vào Trung Nam Hải ! Lâm Bưu kế cùng, muốn qua Vương Phi (Phó Tổng tham mưu trưởng Không quân) để “tạm mượn” tiểu đoàn cảnh vệ trực thuộc Bộ Tư lệnh Không quân bất ngờ đánh vào Điếu Ngư Đài – theo dự kiến. Không may, giờ chót: lực lượng không quân thân Lâm Bưu bị Chu Ân Lai khống chế, vô hiệu hóa, cả nhà Lâm đành lao vào “đường bay tuyệt mệnh”!.

Cũng ở vị trí Chủ tịch Quân ủy trung ương, Mao điều hơn 40 chiến hạm đến vùng biển Việt Nam làm “tấm lá chắn”cho quần đảo Hoàng Sa sau ngày đánh chiếm (chúng tôi sẽ trở lại “sự kiện Hoàng Sa” trong phần viết về quần đảo Trường Sa ở đoạn sau của loạt bài này).

Trước ngày “bùng nổ Hoàng Sa”, Quân ủy trung ương của Mao soạn thảo một văn kiện tuyệt mật chống phá Việt Nam, lưu hành nội bộ, bị tiết lộ bởi gián điệp Trung Quốc Lê Xuân Thành (người Quảng Đông, được Bắc Kinh tung vào Việt Nam hoạt động và bị bắt tại Quảng Bình ngày 30.3.1973).

Văn kiện có đoạn: “Nước ta và nhân dân Việt Nam có mối hận thù dân tộc hàng nghìn năm nay. Chúng ta không được coi họ là đồng chí chân chính của mình, đem tất cả vốn liếng của ta trao cho họ. Ngược lại chúng ta phải tìm mọi cách làm cho nước họ ở trong tình trạng không mạnh, không yếu mới có thể buộc họ ở trong tình trạng hiện nay. Về bề ngoài chúng ta đối xử với họ như đồng chí của mình, nhưng trên tinh thần ta phải chuẩn bị họ trở thành kẻ thù của chúng ta…” (theo văn kiện của Bộ Ngoại giao nước CHXHCNVN: “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” công bố 4.10.1979 – Phần thứ tư).

Nhìn về quá khứ, quan hệ “bất bình đẳng” giữa Việt Nam – Trung Quốc đã xảy ra qua đàm phán Geneva 1954. Điều đó, bạn đọc có thể tìm hiểu sâu hơn qua bài viết của Thảo Nguyên “Cố TBT Lê Duẩn: Chúng ta không được phép sợ Trung Quốc” (Báo điện tử Một Thế Giới 8.7.2014) –trích tham khảo một đoạn (do thư ký của cố thủ tướng Phạm Văn Đồng là ông Việt Phương kể) :

“Khi bàn thảo về Hiệp định Geneva, Bộ Chính trị của ta chỉ đồng ý lấy vĩ tuyến 16 là ranh giới cuối cùng của khu phi quân sự tạm thời giữa hai miền Nam – Bắc trong thời gian chờ tổng tuyển cử. Nhưng Trung Quốc với sự ảnh hưởng của mình, đã khăng khăng ép ta chọn vĩ tuyến 17. Khi chúng ta bàn bạc vấn đề này với Trung Quốc, họ đã nói: “Chúng tôi là tướng ngoài mặt trận. Các đồng chí hãy để cho chúng tôi tùy cơ ứng biến”. Khi nói như thế, người Trung Quốc đã tự cho mình quyền định đoạt số phận của người Việt Nam”.

Sau này, vào 1972, TBT Lê Duẩn nói thẳng với Chu Ân Lai: “Năm đó, người Trung Quốc các anh đã bán đứng chúng tôi trên bàn đàm phán” (Một Thế Giới – tài liệu đã dẫn)

Tư tưởng “nước lớn” và “bành trướng” ngày càng bám rễ trong tư duy của Trung Nam Hải do Mao lèo lái ngay cả khi Mao bị bóng tối giam cầm. Bị mù, Mao vẫn bằng mọi cách trực tiếp xuất hiện trước lãnh đạo các quốc gia đến thăm Trung Quốc như Thủ tướng nước Anh Sir Edward Health (6.1974), Thủ tướng Vương Quốc Bỉ Leo Tindemans (19.4.1975), Thủ tướng Thái Lan Kukrit Pramoj (1.7.1975).

Trong bóng tối, Mao sắp đặt cẩn thận và chu đáo chuẩn bị đón tổng thống Mỹ Gerald Rudolph Ford sẽ đến Bắc Kinh (12.1975) tiếp tục bàn thêm về thỏa hiệp Trung Mỹ – bao gồm việc Mỹ vẫn mở eo biển Đài Loan cho những “hạm đội Đông Hải” của Mao theo con đường nhanh nhất tràn xuống phía Nam?

Kỳ 44: Mao muốn chinh phục trái đất?

Đúng, Mao Trạch Đông nói với các nguyên soái, tướng lãnh, tư lệnh các đại quân khu của Trung Quốc: “Chúng ta phải chinh phục trái đất. Đó là mục tiêu của chúng ta”!


Sihanouk (giữa) cùng với Mao Trạch Đông (trái) và Chu Ân Lai tại Bắc Kinh năm 1970

Câu ấy Mao phát biểu tại Hội nghị Quân ủy Trung ương tháng 9.1959 và lần khác tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng CS TQ ba năm trước đó (1956) Mao đã khơi mào: “Không thể chấp nhận rằng sau một vài chục năm nữa, chúng ta vẫn chưa trở thành cường quốc số một trên thế giới”. Thực tế: “Đại nhảy vọt” cộng thêm “Cách mạng văn hóa vô sản” đẩy Trung Quốc trượt rất xa mục tiêu chiến lược ấy.

Để trỗi dậy, Mao và những người lãnh đạo Trung Quốc đã trở mặt, lật ngược chính sách liên minh: “đổi bạn thành thù, đổi thù thành bạn nhanh chóng và toàn diện”. Ngoài Mỹ, dẫu bị mù, Mao vẫn gắng ngồi dậy theo “kịch bản ngoại giao” đón tiếp nhiều nhà lãnh đạo mà trước kia họ và Mao có một “hố thẳm tư tưởng” ngăn cách và dường như không thể vượt qua, như Tổng thống Philippines: Ferdinand Marcos, Tổng thống Zambia: Dawda Jawara, Chủ tịch Liên minh xã hội Cơ đốc giáo Cộng hòa Liên bang Đức: Leo Strauss…

Các cuộc đàm thoại trên, Mao “nhìn không rõ diện mạo của khách” – khi khách đưa tay ra bắt, Mao “cũng không nhìn rõ, phải chầm chậm thì mới có thể bắt tay được”. Khách đến, hoặc xong việc bước ra, Mao không đưa tiễn vì “không thể đi lại được (…), không thể tự đứng dậy, đã đứng dậy rồi lại không thể tự ngồi xuống” – nhưng “còn may là tất cả những điều đó người ngoài không nhận ra” (Trần Trường Giang, sđd, tr.348).

Có một lần, Thủ tướng Thái Lan Kukrit Pramoj phát hiện khi đưa tay ra bắt, mắt Mao không nhìn thẳng mà lại nhìn… lên phía trên đỉnh đầu Pramoj. Và khi Pramoj tặng quà hữu nghị, Mao “không tỏ ra vui cũng chẳng tỏ ra buồn, không có một biểu hiện tình cảm nào”, vì mắt Mao không thấy Pramoj trân trọng trao quà, nên Mao không có biểu lộ thích ứng.

Trong những nhân vật Mao Trạch Đông nồng nhiệt tiếp đãi có hoàng thân Norodom Sihanouk. Mặc dầu giữ lập trường trung lập, song Sihanouk bị Mỹ xem là “thiên tả” vì đã công khai ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của Việt Nam, cắt đứt mối quan hệ ngoại giao với hai liên minh quan trọng nhất của Mỹ ở châu Á là Thái Lan và Việt Nam Cộng hòa (chính quyền Sài Gòn) vào những năm đầu thập niên 1960.

Để lôi kéo Sihanouk, Mỹ tự kiềm chế, tung “củ cà rốt” viện trợ Campuchia, nhưng lại bị Sihanouk từ chối. Cuối cùng Mỹ phải dùng đến “cây gậy thép” sở trường: đưa 18.000 lính Mỹ vượt biên giới Tây Nam VN mở rộng chiến tranh sang Campuchia vào đầu năm 1970, yểm trợ để Sirik Matak và Lon Nol chỉ huy “cánh hữu” đảo chánh, lật đổ Sihanouk ngày 18.3.1970 lúc ông đang ở Pháp. Sihanouk phải bay sang Trung Quốc tá túc, thành lập Chính phủ vương quốc đoàn kết dân tộc Campuchia (GNURC) với sự tán thành giúp đỡ của Mao Trạch Đông.

Hai tháng sau ngày bị lật đổ (20.5.1970), Sihanouk được Mao Trạch Đông mời đứng bên phải Mao trên lễ đài của cuộc mít tinh khổng lồ với hơn một triệu người tham dự tại quảng trường Thiên An Môn. Mao đọc diễn văn ca ngợi Sihanouk hết lời, hứa ủng hộ chống chế độ Lon Nol do Mỹ dựng lên và mời Sihanouk phát biểu trong tiếng vỗ tay hoan hô như sấm của cả một triệu người: “Đó là một vinh dự hiếm thấy và duy nhất dành cho một người nước ngoài – đặc biệt là đối với một người không còn cầm quyền ở nước mình nữa” (Hồi ký Sihanouk: Những lãnh tụ thế giới mà tôi từng biết – Hoàng thân Norodom Sihanouk cùng Bernard Krisher, Trần Chí Hùng dịch, Nguyễn Quốc Uy hiệu đính, NXB Công an Nhân dân, 1999, tr.156).

Mao Trạch Đông ưu ái tặng Sihanouk một trong các dinh thự đẹp nhất Bắc Kinh (nguyên trước kia là tòa nhà Sứ quán cũ của Pháp) để Sihanouk cùng vợ – bà Monique – cư ngụ. Sihanouk cảm động, có lần lên tiếng cám ơn Mao Trạch Đông. Nhưng Mao ngắt lời, nói:

– “Đừng cám ơn chúng tôi, mà chúng tôi, Trung Quốc, phải cảm ơn ngài. Những vũ khí và tiền bạc gửi sang cho các lực lượng kháng chiến Campuchia không có thể so sánh được với những sự hy sinh anh dũng của những người đứng ở tuyến đầu của cuộc đấu tranh chung của chúng ta chống chủ nghĩa đế quốc Mỹ. Trong cuộc đấu tranh này, những người phải chịu đựng hy sinh là nhân dân Khmer và nhân dân Việt Nam, chứ không phải nhân dân Trung Quốc chúng tôi. Chúng tôi sẽ được lợi nhờ chiến thắng của các ngài” – Hồi ký Sihanouk, sđd. tr.155

Theo thời gian, mối thâm tình giữa Mao và Sihanouk có một tác nhân thứ ba chen vào, ngăn cách, như Sihanouk bày tỏ: “Sau đó ông (Mao Trạch Đông) đã hết lòng ủng hộ chế độ Pol Pot, nhắm mắt làm ngơ trước những hành động vô nhân đạo thái quá của chế độ này, ông chỉ coi nó như một cuộc cách mạng vô sản cổ điển mà ông từng mong ước, đích thân làm người lính xung kích suốt đời. Với chủ ý, ông đã phớt lờ chủ nghĩa cực đoan của Khmer Đỏ và thờ ơ một cách lạnh lùng đối với những thương vong mà Khmer Đỏ gây ra” – Sđd, Tr.153.

Sihanouk rất trân trọng việc Mao tử tế với mình trong suốt 5 năm sống lưu vong tại Bắc Kinh. Nhưng cuối cùng, vì sau khi hồi tưởng giai đoạn đầu mới gặp, nhắc đến “đôi mắt sáng” của Mao ngày nào, Sihanouk lại cảm thán: “Cặp mắt thông minh và sắc sảo, luôn luôn sống động (của Mao Trạch Đông) như thể đang tìm cách cuốn lấy anh giống như trong trò chơi mèo vờn chuột vô hại – trong trường hợp này, thật không may, con chuột không phải ai khác mà là chính tôi” – sđd, tr.150

Kỳ 45: Bị xử tội chết chỉ vì ăn trộm… một trái ổi!

Mao Trạch Đông “xuất khẩu” chủ nghĩa xã hội không tưởng với các “bếp ăn tập thể” sang Campuchia gây nạn đói lớn – trẻ em không có gì ăn, lấy trộm một trái ổi cũng bị Khmer Đỏ xử tội chết: trói tay bằng khăn krama rồi thả trôi sông – theo Bun Rany (vợ thủ tướng Hun Sen).


Mao Trạch Đông và Polpot, ở giữa là Leng Sary

Chế độ diệt chủng Pol Pot sinh ra từ chiếc “lồng ấp” của Mao.

Bản thân Pol Pot (người Campuchia gốc Hoa) là một “phân thân” của chính Mao, một “hình bóng” khác của Mao, nhỏ hơn nhiều, nhưng hoang tưởng và ác tâm không kém, đã sát hại ít nhất 1,7 triệu người Campuchia (trên tổng số 8 triệu dân) – thời kì 1975 – 1979.

Pol Pot (Tổng bí thư Đảng CS Campuchia từ năm 1962 và lãnh đạo tối cao của quân Khmer Đỏ) sau ngày giải phóng thủ đô Phnôm Pênh (17.4.1975), đã bay sang Bắc Kinh “thỉnh thị” ý kiến chỉ đạo của “lãnh tụ vĩ đại” Mao Trạch Đông về đường lối “cách mạng vô sản” của Campuchia trong tình thế mới (6.1975). Bấy giờ bệnh mắt “đục thủy tinh thể” của Mao sắp “chín muồi” (phát triển hoàn toàn để cho phép tiến hành phẫu thuật) mà hội đồng các chuyên gia nhãn khoa vẫn chưa quyết định ngày giờ lên ca mổ. Mao phải chịu cảnh mù lòa hơn 500 ngày qua, giờ phải tiếp tục chịu thêm 100 ngày nữa. Giữa lúc ấy, Pol Pot đến, hỏi “sách lược” ứng phó với hoàng thân Sihanouk và “quốc sách” cho “Campuchia dân chủ”. Được dịp, những ảo ảnh về chủ nghĩa xã hội không tưởng với Đại tiến vọt ngỡ đã chôn vùi lâu nay bỗng lóe sáng hồi sinh trong thế giới đầy bóng tối của Mao và Mao truyền đạt bài bản “chết người” cho Pol Pot thực thi.

Về nước, Pol Pot tuyên bố “xóa bỏ tiền tệ, đóng cửa thị trường”, đuổi hết dân thành thị bao gồm cả giới trí thức văn nghệ sĩ, chính trị gia, giáo sư đại học, lẫn các tu sĩ Phật giáo, người đang bệnh lẫn trẻ sơ sinh, tất cả phải rời thành phố về nông thôn làm ruộng. Vì dưới mắt Pol Pot (nhìn qua lăng kính của André Gunder Frank):“thành phố là những vật ký sinh của nông thôn”không đáng tồn tại. Nhà cửa, chợ búa, trường học vắng ngắt, Phnôm Pênh được mô tả như thành phố ma: Mọi hành động của Đảng CS Campuchia sau khi giành được chính quyền đều mang dấu ấn “tả khuynh” của Mao Trạch Đông – bi kịch Đại tiến vọt của Trung Quốc cuối thập kỷ 50 đã tái diễn ở Campuchia” – theo Tân Tử Lăng.

Pol Pot cấm nổi lửa nấu ăn, lập những “nhà ăn chung” như kiểu “bếp ăn tập thể”của Mao ở Trung Quốc. Lại cấm không cho ăn trái cây hái được, hoặc cá bắt dưới sông: “Người ta đang đói gần chết, nhưng không ai được phép chạm vào bất cứ trái chuối nào ở trên cây mọc gần trại. Thậm chí Khmer Đỏ còn tịch thu tất cả chén dĩa, xoong nồi và đồ dùng để không cho người ta nấu nướng và ăn bất cứ thứ gì tại nhà. Mỗi người được phép giữ một cái đĩa và một cái muỗng. Giống như những kẻ nô lệ, những người trong trại sẽ được tập trung bằng kẻng để đến ăn cháo loãng (…) bắt được một con ếch, hoặc một con cá nhỏ li ti, cũng không được phép ăn “khẩu phần” dư ra ấy”. (Harrish C. Mehta và Julie B. Mehta: Hun Sen, nhân vật xuất chúng của Campuchia – sau đây gọi tắt: Hun Sen – Lê Minh Cẩn dịch, 456 trang, NXB Văn Học quý III – 2008, tr.123).

Những con ma đói mang tấm thân tiều tụy từ thời Đại tiến vọt ở Trung Quốc “đầu thai” lên xứ sở Campuchia, sắp hàng chờ ăn và thất vọng, lần lượt lã người quỵ xuống trước cửa các “bếp ăn tập thể” không còn gạo nấu. Quả là “địa ngục có thật”. Được giải phóng khỏi “địa ngục”, Hun Sen nói, khi ấy “nếu không có bộ đội Việt Nam, chúng tôi sẽ chết” (Hun Sen – sđd. tr. 150) – trả lời phỏng vấn của Harrish C. Mehta tháng 12.1997. Hun Sen, khi đang làm Tham mưu phó Trung đoàn đặc công của Khmer Đỏ ở miền Đông, luôn bị lạnh gáy vì cảm thấy “lúc nào cũng bị hàng ngàn con mắt của Angkar theo dõi” (Hun Sen – sđd. tr.98). Để đề phòng Pol Pot thanh trừng, Hun Sen trốn sang Việt Nam tị nạn chính trị ở tỉnh Sông Bé (nay là Bình Dương) năm 1977. Khmer Đỏ trả đũa, bắt vợ của Hun Sen (là Bun Sam Hieng – thường gọi Bun Rany) vào trại cải tạo. Đêm nọ, Bun Rany tình cờ nghe hai cán bộ lãnh đạo Khmer Đỏ nói với nhau về án tử hình của cô đã được tuyên và sẽ đưa đi giết vào sáng hôm sau. Quá hoảng sợ, ngay đêm ấy, bằng tất cả mãnh lực của người bị dồn đến đường cùng, Bun Rany cùng vài phụ nữ khác táo bạo trốn khỏi trại tập trung của Khmer Đỏ. Họ chạy thẳng vào rừng, đến hừng sáng quá khát nước, cổ họng khô cháy, may sao họ lần tới được một bờ sông. Nhưng ai nấy đứng sửng lại, không dám vốc nước uống, vì “con sông ấy đầy các xác chết trôi lềnh bềnh”. Đó là xác chết của những người lớn và trẻ em bị giết bởi Khmer Đỏ. Khmer Đỏ có “thói quen quái dị, nếu người bị đói ăn cắp đồ ăn, bất cứ họ lấy thứ gì đều sẽ bị trói tay bằng khăn krama” ném xuống sông – như Bun Rany hồi tưởng: “tôi sẽ chẳng bao giờ quên cảnh tượng một đứa bé chết trôi, nó đã ăn cắp một quả ổi và bị trói tay thả sông” (Hun Sen, sđd tr.122).

Thái độ Sihanouk?

Với Trung Quốc, Sihanouk gọi “cách mạng văn hóa vô sản” của Mao đã gây “hỗn loạn” và “kéo Trung Quốc thụt lùi hàng thập kỷ, giết hại một số lãnh tụ tài giỏi nhất của đất nước này, trong đó có Lưu Thiếu Kỳ, một chính khách lớn và là người bạn đáng kính của tôi”. Riêng về Mao: “Quần chúng nhân dân coi ông là một ông thánh cộng sản không thể sai lầm. Nhưng tôi biết rằng không ai trên đời này là người không sai lầm” (Hồi ký Sihanouk – sđd.ở Kỳ 44, tr.157-158).

Với Khmer Đỏ, cách xử sự của Pol Pot với Sihanouk lúc đầu khá “ngọt ngào”. Pol Pot phái Khieu Samphan (sau này làm thủ tướng chính phủ của phe Khmer Đỏ) đến Bắc Kinh mời Sihanouk về lại Phnôm Pênh tháng 9.1975. Sihanouk đến từ giã Mao Trạch Đông, Mao nhắc lại mong nuốn của Mao là Sihanouk sẽ “ủng hộ các đồng chí Khmer Đỏ của ông (Mao Trạch Đông) ở Phnôm Pênh- nhưng câu trả lời của tôi đối với đề nghị của ông không khẳng định mà cũng không phủ định. Tôi tự giới hạn mình bằng cách mỉm cười tôn trọng”(Hồi ký Sihanouk – sđd.tr.148).

Mao Trạch Đông và Khmer Đỏ biết khó lay chuyển Sihanouk nên đã diễn màn “mèo vờn chuột”, không hãm hại ngay, mà giam lỏng, tính sau: “Trong khoảng thời gian từ tháng 4.1976 đến tháng 1.1979 tất cả chúng tôi đã bị quản thúc tại gia trong một khu biệt lập ở hoàng cung, hoàn toàn không được liên hệ với thế giới bên ngoài. Chúng tôi được trao những khẩu phần đạm bạc, phải tự nấu ăn, dọn dẹp lấy”(Hồi ký Sihanouk – sđd. tr.141). Mãi đến năm 1979, thoát khỏi “nhà tù sơn son” ở hoàng cung, Sihanouk mới biết Khmer Đỏ đã giết hại 5 người con của ông. Bi kịch thời đại cộng thêm nỗi buồn riêng, đã gợi lên trong Sihanouk những phác thảo đầu tiên cho bộ phim của ông: “Tham vọng chỉ còn lại tro tàn”…

Advertisements

Leave a comment

Filed under Uncategorized

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s