Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay 16

Kỳ 46: Cuộc hành quyết man rợ trên núi Mộc Phong – Trung Quốc.
Kỳ 47 & 48: Bắc Kinh – Phnom Penh: “Hai phương trời cách biệt!”
Kỳ 49: ‘Khủng bố trắng’ ở Đạo tràng Vân Môn.

Kỳ 46: Cuộc hành quyết man rợ trên núi Mộc Phong – Trung Quốc

Giao Hưởng – Đăng Bởi Một Thế Giới – 23-08-2014

Ngọn Mộc Phong tỉnh Hồ Nam có nhiều hang sâu thăm thẳm với các “hốc đá tử thần” đón những xác người bị hành quyết ném từ cửa hang xuống…

Hoàng thân Sihanouk: “Mao Trạch Đông đã chọn cách ủng hộ chế độ mới của Khmer Đỏ để (Pol Pot )ganh đua (thực hiện) cuộc cách mạng văn hóa được vợ ông, bà Giang Thanh, cổ vũ đang tàn phá đất nước ông” (Hồi ký Sihanouk – sđd ở Kỳ 44)

Hôm ấy nhằm 21 tháng bảy âm lịch, vùng núi Mộc Phong đã vào tiết Xử thử (dứt cơn nóng) cách đó một ngày. Còn gần hai tuần nữa mới đến tiết Bạch lộ (sa mù trắng) mà chim nhạn đen (huyền điểu) đã sớm bắt đầu họp đàn đông đúc, sum vầy, rủ nhau bay về núi – làm cô giáo Chu Quần thấy lẻ loi thêm. Vì chồng cô, anh Tưởng Hán Chính, thuộc đối tượng “xuất thân địa chủ” bị hồng vệ binh nông dân bắt đi mất, chưa về.

Đêm ấy, đến lượt cô, vừa chợp mắt bỗng tiểu đoàn trưởng dân quân Tưởng Văn Minh xô cửa xông vào, bắt cô dẫn ra sân kho của đại đội sản xuất Hoành Lĩnh. Cô thấy chồng mình Tưởng Hán Chính cùng 13 người khác bị trói quặt tay ra sau lưng bằng những sợi dây thép, đứng thành một cụm giữa sân. Vây quanh họ có đám đông hồng vệ binh nông thôn, mặt mày sát khí, cầm sẵn mã tấu, cuốc xẻng trên tay. Bí thư chi bộ Đường Hưng Hạo ra lệnh: “Đi!”

Chu Quần cùng chồng và những nạn nhân ghép vào “đối tượng thù địch của đảng và nhân dân” bị thúc ép đi nhanh lên núi Mộc Phong. Nửa đường, một đám cầm gậy tách ra chạy ngược về phía nhà Chu Quần bắt thêm ba đứa con nhỏ của vợ chồng cô lên theo. Tới nơi, dưới ánh đuốc lạnh lẽo, bí thư Đường Minh Hạo dõng dạc đọc “cáo trạng” lẫn bản “tuyên án” chỉ gọn lỏn trong một câu sấm sét:

– “Chúng tao là Tòa án tối cao của bần nông, hôm nay tuyên án tử hình tất cả chúng mày!

Ai nấy phải đứng im, không được phép biện hộ một tiếng nào, nghe kêu tên người nào người đó phải bước tới, quỳ bên miệng hang sâu tối om, để các đao phủ áo đen “dùng xà beng quật vào sau não cho gục ngã, rồi đạp xuống hang” từng người một.

Người thứ nhất, thứ hai, đến người thứ ba là chồng Chu Quần. Anh Tưởng Hán Chính bị đánh mạnh xà beng vào ót trong ánh mắt kinh hoàng của vợ anh và tiếng kêu ré thảm thiết của ba đứa con anh…

Nạn nhân thứ tư là thầy thuốc Đông y Tưởng Văn Phàm. Phàm bình tĩnh đón nhận cái chết, ung dung đòi “một ngụm nước uống”. Chúng quát: “Làm gì có nước cho mày uống!”. Phàm là người duy nhất hôm ấy dám bắt bẻ: “Ngày xưa khi bị chặt đầu còn cho được ba cái bánh bao nóng để ăn!” – dứt lời, bị đạp ngay xuống hang. Tân Tử Lăng thuật tiếp (tài liệu đã dẫn ở Kỳ 2):

Người thứ 8 là Chu Quần. Ba đứa trẻ nhìn mẹ bị hại, khóc lóc thảm thiết. Không biết ngất đi trong bao lâu, Chu Quần bỗng nghe tiếng gọi mẹ văng vẳng bên tai. Tỉnh lại, chị thấy đứa con gái 8 tuổi nằm bên, thì ra mấy cháu cũng bị ném xuống hang theo mẹ. Nhờ đám xác người bị giết trước, hai mẹ con chị sống sót. Chị bảo con cởi trói cho mình. Hôm sau, những kẻ giết người phát hiện dưới hang còn người sống sót, liền ném đá xuống. Hai mẹ con từ tầng trên rơi xuống tầng dưới nơi có những góc chết. Chị phát hiện chồng và hai đứa con trai nằm ở đó. Cả nhà may mắn thoát chết, một cuộc đoàn tụ hiếm hoi và thảm thương trên đống xác người dưới hang sâu tối tăm”.

Sợi dây thép trói tay anh Tưởng chặt quá như ăn dính vào thịt không làm sao cởi ra nổi. Đầu óc anh đâm ra hoảng loạn, không đứng yên được, cứ đi đi lại lại miệng nói lảm nhảm trên đống xác người. Cảnh thê lương dưới đáy hang như thế tiếp diễn suốt mấy ngày đêm không được rõ, cả ba đứa con của Chu Quần “lịm dần rồi tắt thở”. Anh Tưởng kêu khát nước “chị Chu lấy áo thấm vào vũng nước trộn máu, vắt ra cho chồng uống. Song anh không nuốt nổi, gục đầu xuống lìa đời. Sau nhờ hai học sinh đến cứu, chị thoát chết, và vụ giết người rùng rợn này mới có ngày được phơi trần”. Cuộc thảm sát ấy xảy ra đêm 26.8.1967 (21.7 Đinh Mùi).

Nhắc đến các vụ hành quyết man rợ thời Mao là để đối chiếu thấy rõ thêm cách Pol Pot giết người tương tự theo “bài bản của Mao” và phương châm: “tiết kiệm đạn”, không dùng súng, chỉ lấy cuốc xẻng đập đầu, hoặc các vật cứng khác để hành hình, như trường hợp:

Phlek Chhat một bác sĩ nội trú tại bệnh viện Preah Ket Mealea đã bị bắt ở tỉnh Kompong Cham, bị nhét một ngọn đuốc đang cháy vào miệng và đã chết (…) Hàng trăm bác sĩ khác chẳng bao giờ gặp lại gia đình của họ sau khi bị bắt” (Hun Sen – sđd. tr. 250 – 251).

Mọi thảm cảnh ở Campuchia xuất phát từ chỗ “Pol Pot thấy được nguồn cảm hứng đối với chủ nghĩa cộng sản theo kiểu Mao Trạch Đông và tìm cách tái tạo khuôn mẫu chủ nghĩa Mao ở Campuchia qua việc đấu tranh giai cấp và cải cách ruộng đất” (Hun Sen – sđd. tr. 52). Thảm kịch diễn ra ngay từ ngày đầu lúc Khmer Đỏ vừa tiến chiếm Phnôm Pênh vào 17.4.1975 và bùng to dữ dội sau ngày Pol Pot đến Trung Nam Hải “triều kiến” Mao Trạch Đông tháng 6.1975 (xem Kỳ 45):

Khmer Đỏ “phá hủy nền kinh tế, đã đóng cửa các doanh nghiệp và các nhà máy, đã tàn sát có hệ thống những người trí thức Campuchia được phương Tây đào tạo, các bác sĩ, các giáo viên và các nhà khoa học bằng nhiệt huyết điên rồ của Khmer Đỏ xây dựng một nước Campuchia mới, một quốc gia không có bất cứ ảnh hưởng nào của phương Tây và họ đã nhiễm đầy các tư tưởng Mao Trạch Đông để xây dựng một xã hội dựa vào nền nông nghiệp” – một nền nông nghiệp quá lạc hậu và mang đầy dấu vết “nguyên thủy”.

Từ xuất phát điểm ấy, Pol Pot quay ra thù nghịch với hoạt động tài chính đương thời, đã “ghét tiền một cách cực đoan đến độ đánh sập tòa nhà Ngân hàng trung ương tại đại lộ Tou Samouth” (Hun Sen – sđd. tr. 233-234). Bà Saumura – bỏ công việc ở Paris để nhận làm Phó tổng giám đốc Ngân hàng Quốc Gia Campuchia – phê phán hành động đó của Pol Pot là đã “gây tổn thương lớn (…) khi Khmer Đỏ đánh sập hoàn toàn nhà ngân hàng này, Ngân hàng Trung ương, vì nó (dưới mắt Pol Pot) là biểu tượng của chủ nghĩa tư bản. Họ muốn cho thấy thái độ thù địch của họ chống lại thị trường tự do” (Hun Sen – sđd. tr. 234).

Về giáo dục, Khmer Đỏ đóng cửa các trường học, hành quyết các nhà giáo, để rồi: “không sao có thể xây dựng lại một hệ thống giáo dục đúng nghĩa vì các giáo viên đã chết – toàn bộ những người làm nghề giáo đã bị giết bằng lưỡi lê” – Hun Sen, sđd. tr. 248.

Kỳ 47 & 48: Bắc Kinh – Phnom Penh: “Hai phương trời cách biệt!“

Sihanouk bị Lon Nol và Sirik Matak lật đổ (1970), thất thế phải đáp xuống Bắc Kinh gặp Mao, Mao nói: “Ngài đáng trở thành một người cộng sản – kể từ nay xin ngài hãy cân nhắc việc trở thành một người cộng sản”!


Hoàng thân Sihanouk và tổng thống Indonesia Sukarno

Là một ông hoàng bay bướm, thích ngao du, lẽ nào Sihanouk chịu khép mình vào “đảng Mao”. Ông đáp:

Thưa chủ tịch, tôi không hiểu chủ nghĩa cộng sản cũng như chủ nghĩa Mác – Lênin là gì. Tôi đã đọc “Sách đỏ” của chủ tịch, thế là đủ.

1. PHNOM PENH: THỦ ĐÔ CỦA NỮ THẦN CALYPSO VÀ CÁC VŨ NỮ APSARA:

Mao chưa buông tha “kẻ ngoại đạo”, vẫn cố thuyết phục để Sihanouk đem sinh mạng chính trị của mình đổi lấy “một vé đến thiên đường”. Có điều, lòng ngưỡng mộ lý tưởng quân chủ trung lập (không cộng sản) đã bắt rễ quá sâu trong máu Sihanouk. Mao khó mà “nhuộm đỏ” những bức tường màu vàng rực ở cung điện hoàng gia Campuchia vốn là màu đặc trưng, quý phái và chói sáng trong ký ức Sihanouk từ ngày ông lên ngôi vua lần thứ nhất năm 1941, mới 18 tuổi (lúc Mao đang còn lận đận) – 14 năm sau, Sihanouk nhường ngôi cho thân phụ là hoàng thân Suramarit làm Quốc vương, còn ông làm thủ tướng (được bầu).

Với vị thế chính trị đó, tháng 4.1955, trên diễn đàn Hội nghị thượng đỉnh các nước Á Phi không liên kết lần thứ nhất nhóm ở Bandung, Sihanouk tuyên bố nước “Campuchia trung lập”. Đến 1960, Quốc vương Suramarit băng hà, Sihanouk lên làm Quốc trưởng.

Dưới quyền Sihanouk, những con đường chính trong thủ đô Phnom Penh trung lập mang tên một số lãnh tụ của các chế độ chính trị khác nhau trên thế giới như: đại lộ Charles de Gaulle (tổng thống Pháp), đại lộ Mao Trạch Đông, đại lộ Liên bang Xô-viết… Ông cho phép mở những hiệu sách bán tiểu thuyết trữ tình của Pháp, đĩa hát Mỹ và tác phẩm triết học phương Tây (Mao rất kỵ). Phnom Penh có những vũ trường đỏ đèn qua đêm. Có quán cà phê hảo hạng Apsara thấp thoáng những vũ nữ má hồng. Có quán rượu mang tên Calypso – nữ thần mây mưa lãng mạn trong trường ca Odyssée – đã yêu đơn phương Ulysse suốt 7 năm và hứa hẹn sẽ trao người mình yêu “một trái tim không bao giờ ngừng đập”.

Buổi trưa, du khách có thể bất chợt bắt gặp giữa Phnom Penh cô bán sách nằm mơ màng bên những cuốn “Đứa con đi hoang trở về” của André Gide, hoặc gối đầu lên Bạo chúa Caligula và những “Con người phản kháng” của Albert Camus để ngủ. Bernard Krisher – một trong những trưởng văn phòng của tuần báo Newsweek tại châu Á – là nhà báo đầu tiên phỏng vấn hoàng đế Hirohito của Nhật – đến Phnom Penh mùa xuân 1965 dự dạ hội hoàng cung với “những người mẫu xinh đẹp lái những chiếc xe hơi đời mới nhất và sang trọng nhất giống như một buổi trình diễn thời trang ở Paris” và đọc thấy trong bản tin hàng ngày của hãng thông tấn Khmer lúc ấy đăng danh sách “hàng nhập khẩu ở nước ngoài với số lượng những cuộn phim Kodak và những chai rượu Perrier”. Bernard Krisher nhận xét: “Người Campuchia, dưới thời Sihanouk, được sống trong một tủ kính tuyệt vời – và không ai có thể ném đá vào cái tủ kính đó”.

Mười năm sau, Khmer Đỏ thay vì ném đá, đã đặt bom giật nổ tung tất cả, muốn lật mặt đất Phnom Penh lên để moi tìm hạt giống “bảo hoàng” sót bên dưới, lạnh lùng theo kiểu hồng vệ binh của Mao từng đập phá lăng mộ Thành Cát Tư Hãn và Chu Nguyên Chương – hoàng đế khai sáng nhà Minh (Minh Thế Tổ). Một nhận xét khác: trong thời trị vì của Sihanouk, mặc dầu đâu đó vẫn tồn tại những xóm nghèo, song thủ đô Phnom Penh vẫn “giống như một thành phố êm đềm ở một tỉnh của Pháp (…) lối sống hòa nhã, tử tế. Phnom Penh đã tự xưng là hòn ngọc của Đông Nam Á, mặc dù Sài Gòn cũng đã ở ngôi vị như vậy. Tất cả đã qua đi, đã bị Khmer Đỏ xóa sạch” (Hun Sen – sđd. tr. 232).

2. BẮC KINH: THỦ ĐÔ VỚI ĐỢT “SÓNG THẦN MÀU ĐỎ”:

Cùng thời điểm 1965 – 1969, khi thủ đô Phnom Penh mở cửa rộng thoáng, Bắc Kinh thế nào? Trần Trường Giang (sđd ở Kỳ 8, tr.46-47) thuật: Ngày 18.8.1966, lễ meeting Đại cách mạng văn hóa cử hành trọng thể tại thủ đô. Chu Ân Lai thông báo: trung ương quyết định, toàn bộ sinh viên trên cả nước và một bộ phận học sinh trung học làm đại biểu cho lực lượng hồng vệ binh, phân chia thành từng tốp, lần lượt đến Bắc Kinh để Mao chủ tịch tiếp kiến.

Chỉ trong thời gian rất ngắn, hàng triệu thanh thiếu niên trên cả nước “đi bằng xe lửa, ô tô, đi bộ, trèo qua núi cao, vực sâu, lũ lượt kéo đến (…) bất luận đi bằng phương tiện gì, ăn ngủ ở nhà nghỉ hay khách sạn đều không phải trả tiền, thậm chí còn được phát tiền lộ phí, bởi họ là khách quý của Mao chủ tịch, được Mao chủ tịch mời đến”.

Khoảng thời gian đó, đường phố thủ đô Bắc Kinh tràn ngập “toàn người là người, nhà nhà có khách, cửa hàng cửa hiệu đầy ắp khách (ăn không trả tiền)”. Từng đợt, từng đợt tiếp tục đến, đông quá không còn chỗ ở “họ kéo nhau ra công viên, ra các đường phố lớn dựng nhà bạt làm chỗ ăn ở tạm. Tổ chức đem bánh mì, bánh bao, trứng gà phát không tận tay. Cả thủ đô Bắc Kinh gồng mình lên đón tiếp họ”. Việc mua bán tắt nghẽn. Rồi sau đó?

Họ cầm “Sách đỏ” của Mao hăng máu bước vào “thời của những kẻ giết người”. Tài liệu Tân Tử Lăng ghi: “chỉ riêng hạ tuần tháng 8.1966, nội thành Bắc Kinh đã có hàng ngàn người bị đập chết tươi – nhiều người khi ấy đã được chứng kiến những cuộc tắm máu, những kiểu giết người cực kỳ man rợ như thời Trung cổ”.

Tập thể đao phủ gồm những hồng vệ binh trẻ tuổi dùng gậy gộc đao búa đánh vào đầu những người thuộc 4 đối tượng do Mao quy định: “địa chủ, phú nông, phản cách mạng và phái hữu đi theo con đường tư bản”. Máu chảy, Mao cấm quân đội và công an không can thiệp, ngăn cản, hoặc nổ súng vào hồng vệ binh, dẫu chỉ “bắn lên trời” để dọa !

Không khí thù hằn tràn ra khỏi thủ đô, bao trùm cả nước Trung Hoa rộng lớn, tỉnh Hồ Nam là một trong những điển hình: “Khắp nơi là những bố cáo giết người của tòa án tối cao bần nông và trung nông lớp dưới, những khẩu hiệu kêu gọi giết sạch 4 loại người (đã nêu trên). Trong 66 ngày từ 13.8 đến 17.10.1967 4.519 người thiệt mạng, trong đó gồm 4.193 người bị giết, 326 người bị buộc phải tự sát” – theo Tân Tử Lăng.

3. SIHANOUK: “TÔI LÀ NGƯỜI THEO ĐẠO PHẬT. HÃY THA LỖI CHO TÔI”

Khác Mao, Sihanouk không thích bạo lực. Ông thích soạn nhạc, chơi saxophone sành sỏi và đạo diễn nhiều cuốn phim như “Hoa hồng Bokor” do chính Sihanouk thủ vai một đại tá người Nhật trong thế chiến thứ hai đã yêu thương một cô gái Campuchia xinh đẹp (do vợ ông, bà hoàng Monique đóng) – gởi gắm thông điệp: “tình không biên giới”.

Gặp gỡ các lãnh tụ: De Gaulle, Nehru, Nasser, Khruschchev, Boumédienne, Sékou Touré… trong nhiều trường hợp Sihanouk vượt qua rào cản ngoại giao để thân mật hơn khi tiếp chuyện. Với tổng thống Achmed Sukarno (1901 – 1970) của Indonesia chẳng hạn. Sukarno là “một nhà ngôn ngữ học hoàn hảo” giỏi tiếng Hà Lan, nói thạo tiếng Pháp, tiếng Anh và tiếng Pali (ngôn ngữ cổ Ấn Độ).

Còn Sihanouk giỏi tiếng Pháp, học tiếng La tinh và tiếng Hy Lạp cổ điển tại trường Trung học Lycée Chasseloup Laubat (nay là trường Lê Quý Đôn – TP. HCM). Họ, hai người, Sihanouk và Sukarno ngay lần gặp mặt đầu tiên đã tỏ vẻ tâm đắc, nói chuyện bằng tiếng Pháp không cần phiên dịch, nhanh chóng thành “đôi bạn chân tình” hiếm có trong giới những lãnh tụ. Sukarno chiêu đãi, hoàng thân Sihanouk cụng ly hát bài La vie en rose (Đời đẹp tựa bông hồng),J’attendrai (Anh sẽ đợi) và chia tay hát bài Sayonara (Chào tạm biệt) vượt qua nghi lễ quốc gia, đến gần với “tình nghệ sĩ”. Còn Mao?

Mao thuyết giảng chủ nghĩa Mác – Lênin “mang màu sắc Trung Quốc”.

Sihanouk cám ơn:

Tôi tán thành những lý tưởng của chủ tịch, nhưng tôi không biết gì về chủ nghĩa cộng sản. Tôi không thể trở thành một người cộng sản tốt được.

Vì Sihanouk “không biết gì”, nên Mao hướng dẫn “đọc những luận văn tóm lược về chủ nghĩa cộng sản mà người ta nói là để làm cho chủ nghĩa Mác Lê-nin dễ hiểu hơn” – nói trắng ra, Mao muốn khuyên Sihanouk “học thuộc lòng” những sách nhập môn về lý thuyết cộng sản dành cho các đảng viên dự bị. Đến đó, Sihanouk thấy cần kết thúc:

– “Thưa chủ tịch, rõ ràng là tôi không thể – tôi đã quá già để không thể thay đổi triết lý sống của mình. Tôi là người theo đạo Phật. Hãy tha lỗi cho tôi”.

Nghe vậy “Mao Trạch Đông hoàn toàn thất vọng đối với tôi (Sihanouk)”, để không lâu sau Mao xoay sang “hết lòng ủng hộ chế độ Pol Pot”, sẵn sàng làm theo mật lệnh của Mao. Văn kiện của Bộ Ngoại giao Việt Nam 4.10.1979 nêu rõ: Trung Quốc đã “gạt Quốc trưởng Sihanouk và những người thân cận của ông ta, để xây dựng nên một chế độ phát xít diệt chủng (do Pol Pot đứng đầu) có một không hai trong lịch sử loài người và thông qua chế độ đó hoàn toàn kiểm soát nước Campuchia, biến Campuchia thành một nước chư hầu kiểu mới và căn cứ quân sự của họ để tiến đánh Việt Nam từ phía Tây Nam” (tài liệu đd Kỳ 43).

Cuộc đối thoại giữa Mao và Sihanouk trên do chính Sihanouk kể, tóm lược từ Hồi ký Sihanouknhững lãnh tụ thế giới mà tôi từng biết, Trần Chí Hùng dịch, sđd Kỳ 44, tr. 151-152. (những câu trong ngoặc kép có nội dung liên quan trích từ nguyên văn bản dịch).

Là người theo đạo Phật, Sihanouk rất khó xử khi một “người bạn lãnh tụ” nào đó mời ông tham gia những trò giải trí “sát sinh” như đi săn bắn hoặc câu cá. Một đoạn Hồi ký Sihanouk về mối quan hệ với nguyên soái Josip Broz Tito của Nam Tư nói rõ điều đó. Tito thân Sihanouk tới nỗi mỗi lần Sihanouk đến thăm, Tito tự tay lái xe đưa tới ngôi biệt thự nhỏ bằng gỗ trên đảo Wanga, lấy từ hầm rượu một chai vang trắng hảo hạng của Nam Tư sản xuất từ 1892 (năm sinh Tito) để mời và đích thân “làm món thịt quay kiểu Mỹ cho Monique vợ tôi và tôi, rồi tự tay pha cà phê Thổ Nhĩ Kỳ tỏa hương thơm ngào ngạt”. Nhưng “có một trò giải trí tôi không chấp nhận là săn bắn và tôi cũng không thích đi câu trong khi Tito lại rất thích cả hai, đặc biệt là đi săn” (sđd. tr. 165).

Ở đoạn khác: “trong chuyến đi thăm Phnom Penh, Tito muốn tôi tổ chức một cuộc đi săn voi (…) làm sao tôi có thể biện hộ cho việc săn bắn những con dã thú trước 80.000 vị sư mà họ có thể “xé tôi ra từng mảnh” vì buộc tội tôi là một nguyên thủ quốc gia theo đạo Phật không được phép sát sinh” – đi săn voi, câu cá là phạm giới (sđd. tr. 171).

Khi Sihanouk nói “tôi là người theo đạo Phật” Mao ít nhiều “bẽ mặt”, vì Mao đã ra lệnh đàn áp tàn nhẫn những người Phật tử sau ngày nắm chính quyền: “cộng sản thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949 Phật giáo phải đương đầu với một chính sách duy vật, vô thần, xem tôn giáo là thuốc phiện, là công cụ của giai cấp thống trị – chính sách chung là bài trừ tôn giáo” (Trần Quang Thuận – Phật giáo Trung Quốc, NXB Tôn Giáo, Hà Nội quý IV – 2008, tr. 537).

Trần Quang Thuận viết tiếp: “Cộng sản Trung Hoa tuyên bố chính sách tự do tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng” để huyễn hoặc và che mắt công chúng, bởi: “tự do không tín ngưỡng” có nghĩa là cho phép những người vô thần “có quyền chống lại bất kỳ tín ngưỡng tôn giáo nào”(trong đó có Phật giáo và Công giáo).

Ngày 4.8.1950, chưa đầy một năm thành lập nước CHND Trung Hoa, Mao Trạch Đông chính thức nêu quan điểm: “xem tu sĩ Phật giáo, đạo sĩ Lão giáo (…) là ký sinh trùng của xã hội, phương trượng trụ trì ở các đại tự là thành phần địa chủ sống bằng mồ hôi nước mắt của dân”,mở đường cho chiến dịch càn quét dã man chùa chiền, tự viện, sát phạt bắt bớ các vị cao tăng, hòa thượng, chư tăng ni và thiện nam tín nữ khắp Trung Quốc, với những cuộc đấu tố tra khảo đẫm máu giữa sân chùa, được giải mật và sẽ tường thuật chi tiết ở kỳ sau.

Kỳ 49: ‘Khủng bố trắng’ ở Đạo tràng Vân Môn

Do chủ trương chống phá Phật giáo của Mao Trạch Đông, Trung Quốc trắng trợn điều động hơn 100 nhân viên an ninh mang súng và gậy gộc xông vào chùa Vân Môn giữa lễ niệm hương bắt đi 26 tu sĩ, giết chết thiền sư Diệu Vân và đánh trọng thương lão hòa thượng trụ trì Hư Vân 112 tuổi…


Ảnh TL (minh hoạ)

Chùa Vân Môn là “thánh địa đạo tràng” của thiền tông Trung Hoa dựng lên từ năm 923 bởi tổ Vân Môn Văn Yển, tọa lạc trên núi Vân Môn – một danh sơn thuộc huyện Nhũ Nguyên, Quảng Đông. Sau hơn 1.000 năm hưng phế, đến đầu thế kỷ 20, chùa nghiêng đổ tiêu điều, không người lui tới – chỉ sót một vị tăng già ngày đêm giữ ngọn lửa Phật bên nền điện Đại Hùng lạnh cóng. Quanh ngôi cổ tự đầy những lùm lau lách, cỏ dại, hang hốc chồn hoang rắn chuột…

Đến năm 1942, nhờ vận hội mới, chùa Vân Môn trùng hưng trong suốt 9 năm, mọc lên điện đài, lầu gác, sảnh đường và các công trình kiến trúc mới, uy nghiêm đồ sộ với ngót 180 ngôi, trên diện tích hơn 20 mẫu – là nhờ nguyện lực và sức bình sinh đích thân đứng ra tái tạo của vị đại tri thức nổi danh nhất Trung Quốc thời ấy: hòa thượng Hư Vân.

Hòa thượng Hư Vân cùng đức Đạt-lai Lạt-ma thứ 14 được suy tôn làm hội trưởng danh dự củaHiệp hội Phật giáo Trung Quốc năm 1952. Đến năm 1959, do tình hình chính trị bất ổn ở Tây Tạng, đức Đạt-lai Lạt-ma phải sang Ấn Độ bắt đầu cuộc sống lưu vong: “Tháng 3.1959 (…) Tây Tạng phát động cuộc vũ trang nổi loạn (…) Đạt-lai Lạt-ma lại theo chủ nghĩa ly khai” ra nước ngoài (Nhiếp Nguyệt Nham, sđd. ở Kỳ 28, tr.474-475 – NXB Giải phóng quân, Bắc Kinh 1999 và NXB Trẻ, TP. HCM 2001).


Hòa thượng Hư Vân trên 100 tuổi. Ảnh TL

Trước đó, đầu xuân Tân Mão, thứ bảy 31.3.1951, ngài Hư Vân đang mở “giới đàn Ngàn Phật” ở chùa Vân Môn, có đông đảo tứ chúng vân tập cùng 120 tăng, bỗng bị công an Trung Quốc đến vây. Họ ào vào chùa, ngang nhiên bắt hòa thượng Hư Vân nhốt trongPhương trượng. Tất cả các cổng ra vào chùa đều có công an ngăn giữ, không cho ai thoát đi. Phật tử đến cúng dường, nghe kinh, bị ngăn lại, đuổi về. Các sư đang niệm hương lễ Phật, bị gom lên thiền đường giam giữ, nạt nộ “hỏi cung”.

Cuốn Hư Vân hòa thượng niên phổ của cư sĩ Sầm Học Lữ (đệ tử thân cận với hòa thượng Hư Vân) do Kiến Châu, Như Thủy và Hạnh Đoan dịch, với tựa: “Hư Vân niên phổ – thơm ngát hương lan” (sau đây viết tắt: Thơm ngát hương lan), NXB Phương Đông, TP. HCM quý I – 2009, cho biết:

Hôm ấy công an tiến hành khám xét toàn chùa, lục soát rất kỹ “từ mái ngói đến nền gạch, các tôn tượng Phật, Tổ cho đến pháp khí, kinh tạng… họ đều lật kiếm tỉ mỉ. Họ huy động hết toàn bộ thuộc hạ có đến cả trăm người, xúm nhau lục lọi trong chùa Vân Môn ngót hai ngày trời mà không thu được gì. Thế là họ bắt giám viện Minh Không và các sư trong ban chức sự như: Duy Tâm, Ngộ Huệ, Chân Không, Duy Chương… giải đi. Họ còn quơ hết sổ sách, sổ bộ, thư từ qua lại cùng các pháp ngữ, văn tự, kinh điển, chú giải cả trăm năm của hòa thượng Hư Vân dồn vào bao chở đi luôn, sau khi đã gán cho ngài một số tội lỗi lớn (…) Mấy ngày sau đó, họ bắt thêm 26 vị tăng nữa, dùng đủ cực hình tra tấn tàn độc, buộc chư tăng phải khai chỗ hòa thượng giấu vàng. Nhưng tất cả chư tăng đều nói không biết nên họ tiếp tục tra khảo, đánh đập. Sư Diệu Vân bị họ đánh chết (…) Sư Ngộ Vân bị đánh gãy chân. Sư Thể Trí bị đánh gãy tay. Ngoài ra còn có một số tăng bị mất tích” (sđd. tr.326-327-328).

Không lấy được lời khai như mong muốn, công an quay lại lục soát kỹ hơn suốt 10 ngày, từ tòaPhạm vũ, Tổ đường, Khách đường, Điện Già lam, cho đến Trai đường, Niễn mễ phòng (nhà xay gạo), tháp Hải hội (chỗ đặt di cốt của thất chúng) không chỗ nào không soi kiếm. Kết quả, vẫn không tìm được gì. Công an trút hết giận dữ vào lão hòa thượng Hư Vân những ngày tiếp đó.Thơm ngát hương lan, sđd. tr.328 – thuật tiếp:

Thứ sáu 6.4.1951 (1.3 Tân Mão):họ bắt sư (Hư Vân) nhốt vào thất kín, truyền đóng hết các cửa cái và cửa sổ lại, bỏ đói ngài, và cấm không cho ra ngoài đại tiểu tiện dù ngày hay đêm, chỉ cho để một ngọn đèn lù mù, giống như cảnh địa ngục”.

Chủ nhật 8.4.1951 (3.3 Tân Mão): “hơn 10 người lực lưỡng kéo vào thất, ép buộc sư phải giao nộp vàng bạc, súng ống cho chúng. Sư bảo là không có. Họ bèn thẳng tay đánh đập. Ban đầu thì dùng gậy, sau dùng côn sắt, họ quất tới tấp vào đầu, cổ, khắp thân thể sư. Vừa đánh vừa nạt nộ tra hỏi. Tiếng dùi cui và cây sắt bổ xuống nghe rầm rầm. Ngài lỗ đầu, chảy máu, gãy xương sườn… nhưng ngài cứ nhắm mắt, ngậm miệng làm thinh nhập định. Hôm ấy, bọn chúng lôi sư xuống đất đánh đập dã man tới bốn lần. Đến khi thấy tình trạng sư quá nguy kịch, chỉ còn chờ chết, chúng mới kéo nhau đi

Advertisements

Leave a comment

Filed under Uncategorized

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s