Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay 18

Kỳ 53-54: Mao Trạch Đông trước đối thủ ‘diều hâu nhất thế giới’: Harry S. Truman!
Kỳ 55: Nếu không có “Bành đại tướng quân”…
Kỳ 56: Mặt trận Triều Tiên với ‘Thái công binh pháp’

Kỳ 53-54: Mao Trạch Đông trước đối thủ ‘diều hâu nhất thế giới’: Harry S. Truman!

Giao Hưởng Đăng Bởi Một Thế Giới – 18-09-2014

Mao Trạch Đông gặp phải nhiều thách thức đến từ một đối thủ chống Cộng triệt để: Tổng thống thứ 33 của Mỹ Harry S. Truman – người đã ra lệnh ném hai quả bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki…

Nhậm chức tổng thống 12.4.1945, Truman nhanh chóng trở thành “khắc tinh” của các lãnh tụ Cộng sản – đứng đầu là Stalin và Mao Trạch Đông.

* TUYÊN CHIẾN VỚI NHỮNG “BÓNG MA MÀU HỒNG”:

Trong diễn văn nẩy lửa đọc trước Quốc hội 12.3.1947, Truman đã minh định “sứ mạng lãnh đạo thế giới tự do” của Mỹ, nhằm chống lại “sự bành trướng của Liên Xô” và các nước Đông Âu có “màu cờ đỏ”. Nhằm mục tiêu “chống Cộng” đó, suốt 8 năm ở Nhà Trắng (1945-1953), Truman đốc thúc triển khai thử nghiệm thành công bom H (5.1951) có sức công phá hơn 100 lần hai quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima và Nagasaki; chế tạo và bay thử thành công pháo đài bay ném bom rải thảm B52 (4.1952); hạ thủy tàu sân bay Coral Sea thuộc lớp Midway với lượng choán nước 52.500 tấn, sức chở hơn 4.500 quân và 75 máy bay tiêm kích, cường kích, gây nhiễu không gian đối phương… Vài sự kiện “diều hâu” khác (của Truman):

· Thành lập Cục tình báo trung ương Mỹ CIA (Central Intelligence Agency) và cử nhân vật tin cậy của mình là thủy sư đô đốc Roscoe H. Hillenkoetter làm giám đốc đầu tiên của CIA (1947). Nhưng hai năm sau, Truman trách cứ và lạnh nhạt với Roscoe, vì Roscoe có những đánh giá khá thiện cảm với phong trào Việt Minh trong một báo cáo tuyệt mật. Thêm nữa, Roscoe công khai lên tiếng bênh vực lập trường dân tộc của Hồ Chí Minh trước mặt Truman tại cuộc họp cuối năm 1949, ở Nhà Trắng.

· Truman là tổng thống Mỹ đầu tiên dính líu vào chiến tranh Việt Nam, đã gạt qua một bên ý kiến của giám đốc CIA Roscoe, để tiến hành các biện pháp cứng rắn chống Việt Minh, thông báo viện trợ cho Pháp (8.5.1950) và đưa đoàn cố vấn quân sự đầu tiên của Mỹ: MAAG(MilitaryAssitance and Advisory Group – Indochina) gồm 35 chuyên viên đến Sài Gòn (3.8.1950), mở đầu quá trình can thiệp của Mỹ vào Việt Nam

· Viện trợ quân sự và kinh tế khổng lồ cho Tưởng Giới Thạch để chống Mao Trạch Đông theo kim chỉ nam của “nguyên tắc Domino” (được lập thuyết bởi tổng thống kế nhiệm Eisenhower). Vậy “nguyên tắc Domino” là gì?

Trần Trọng Trung qua cuốn “Một cuộc chiến tranh sáu đời tổng thống” – một tài liệu tổng hợp cao, được phát hành hơn 30.000 bản trong lần in đầu tiên bởi NXB Văn Nghệ TP. HCM, quý IV-1986, tr.128-129 – đã giải thích: Domino là một loại cờ có 28 quân, người chơi phải đi thế nào để “ngăn chặn không cho đối phương đặt tiếp được quân của họ nữa”. Ứng dụng trên “bàn cờ quốc tế” sau chiến tranh thế giới thứ hai, là phải“dùng viện trợ – trước hết là viện trợ quân sự – làm quân cờ Domino để ngăn chặn sự bành trướng của Cộng sản (…) Người đề xuất nguyên tắc này là tổng thống Mỹ H. Truman. Từ giữa năm 1949 “nguyên tắc Domino” được coi là gốc rễ mọi chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ tại Viễn Đông, khi mà nhân dân Trung Quốc đang đứng trước triển vọng thắng lợi trong cuộc nội chiến và nhân dân Đông Dương đang sẵn sàng đón thời cơ chiến lược để đưa cuộc kháng chiến đi vào bước ngoặt. Cơ sở lý luận và thực tiễn của “nguyên tắc Domino” được Hoa Kỳ rêu rao để có cớ can thiệp vào phong trào giải phóng dân tộc ở Viễn Đông là: Nếu Đông Dương “mất” vào tay Cộng sản thì các quốc gia còn lại ở Đông Nam Á sẽ không tránh khỏi bị Cộng sản xâm nhập và thôn tính theo một phản ứng dây chuyền”.

Nên, ngay hai năm đầu của nhiệm kỳ (1945-1946), Truman hỗ trợ mạnh mẽ chính phủ Quốc dân đảng của Tưởng Giới Thạch (chủ tịch Trung Hoa dân quốc 1943-1948tổng thống Trung Hoa dân quốc từ 1948), lúc ấy đang chiếm 67% lãnh thổ với 71% dân số – để chống phá và ngăn chặn sự lớn mạnh của quân đội Cộng sản do Mao Trạch Đông lãnh đạo.

* MAO TRẠCH ĐÔNG VƯỢT “BỨC TƯỜNG LỬA” NAM TRƯỜNG GIANG

Tài liệu của Ban nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc dẫn trong cuốn “Cha tôi Đặng Tiểu Bình”, nguyên tác của Mao Mao (Quách Hải Lượng và Trần Ngọc Thuận dịch, NXB Chính trị Quốc gia – Hà Nội 1995, Quyển 1), cho biết:

Từ tháng 9.1945 đến 6.1946, theo lệnh Truman, Mỹ đã “dùng máy bay, tàu chiến chở 14 quân đoàn Quốc dân đảng, ước chừng 540.000 quân từ đại hậu phương Tây Nam, Tây Bắc tới các vùng Hoa Bắc, Hoa Đông, Hoa Nam, Đông Bắc” để sẵn sàng tấn công “Cộng quân”.

Cạnh đó, Truman không chỉ đưa 90.000 thủy quân lục chiến Mỹ vào Trung Quốc (số quân Mỹ đóng trên đất Trung Quốc sau đệ nhị thế chiến lên tới 113.000 người) mà còn huấn luyện tại chỗ 150.000 nhân viên quân sự và tình báo bản địa nhằm “dùng người Trung Quốc đánh người Trung Quốc”.

Với Truman “đình chiến là giả, giúp Quốc dân đảng chuẩn bị chiến tranh là thật” – cung cấp 936 máy bay, cộng một số lượng lớn đại pháo, chiến hạm, xe tăng, cùng nhiều vật tư phương tiện chiến tranh khác cho Tưởng Giới Thạch, giúp phát triển tổng binh lực Quốc dân đảng lên đến 4.300.000 quân (Mao Trạch Đông có 1.270.000 quân). Khi đã xây đắp và củng cố sức mạnh quân sự cho Tưởng ở mức “ổn định”, Truman tuyên bố từ bỏ vai trò “trung gian hòa giải” (1.1947) để rút quân khỏi Trung Quốc, song thực tế “vấn đề nội chính của Trung Quốc tựa hồ như hoàn toàn do người Mỹ chỉ huy và vận hành theo ý định của người Mỹ” (sđd, tr.694-695). Tài liệu ghi:

Riêng nửa đầu năm 1946 Mỹ “cung cấp số quân nhu trị giá 51,7 tỷ đô la Mỹ cho Chính phủ Quốc dân đảng. Mỹ còn chính thức tổ chức một đoàn cố vấn quân sự 2.000 người. Thực chất đó là một cơ cấu quân sự trực tiếp tham dự vạch kế hoạch và chỉ huy nội chiến Trung Quốc”.

Nội chiến đại quy mô (giữa quân đội Tưởng và Mao) bùng nổ tháng 6.1946. Thời điểm đó, Tưởng Giới Thạch nắm ưu thế nhiều mặt, muốn “dùng phương châm chiến lược tốc chiến tốc thắng, dốc 80% binh lực quân chính quy ra, tổ chức tiến công toàn diện vào Đảng cộng sản ở quy mô toàn quốc, dự tính trong vòng từ 3 đến 6 tháng có thể diệt xong quân cộng sản ở khu vực bên trong Vạn lý trường thành, sau đó sẽ giải quyết vấn đề đông bắc”.

Mở đầu, Tưởng Giới Thạch tung khoảng 1.600.000 quân tổng tấn công khu giải phóng Trung Nguyên của Đảng Cộng sản.

Để ứng phó, Mao Trạch Đông mở đợt “rút lui chiến thuật” (6.1946 – 6.1947), chuyển sang “phản công chiến lược” (1948-1949), với 3 chiến dịch lớn: Liêu Thẩm, Hoài Hải và Bình Tân, đánh thiệt hại nặng 1.500.000 quân tinh nhuệ Quốc dân đảng, làm “bàn đạp” vượt Trường Giang (20.4.1949), chọc thủng “bức tường lửa” của 700.000 quân Quốc dân đảng đóng dọc bờ Nam, đánh chiếm Nam Kinh (23.4.1949) – nơi đóng trụ sở của Chính phủ trung ương Quốc dân đảng – và kéo lá cờ đỏ lên đỉnh Phủ tổng thống.

Biết tin, Truman tức giận, triệu tập các tham mưu Bộ Quốc phòng Mỹ và giám đốc CIA Roscoe, chất vấn: Tại sao “quân Tàu đỏ” Mao Trạch Đông lại có thể đánh bại đội quân Tưởng Giới Thạch đông đảo hơn, lại được Mỹ huấn luyện và trang bị đầy đủ hơn? Ở phòng tuyến sông Trường Giang có cả 300 máy bay, 40 tàu chiến lớn, hơn 130 tàu cơ động yểm trợ ? Các câu trả lời đều không làm Truman hài lòng. Rút kinh nghiệm từ việc giúp Tưởng Giới Thạch không thành công, Truman tiếp tục ứng dụng “nguyên tắc Domino” ở các nước khác với vài điều thay đổi.

Cụ thể, ở Hàn Quốc, Truman không tập trung xây dựng quân đội Nam Triều Tiên (như Stalin đã và đang làm đối với quân đội Kim Nhật Thành ở Bắc Triều Tiên lúc ấy). Thay vào đó, Truman cam kết sẽ đưa lực lượng Mỹ trực tiếp đến ứng chiến trong trường hợp an ninh quốc phòng của Hàn Quốc bị xâm phạm.

Giữ lời hứa, Truman gởi quân tham chiến ngay khi Kim Nhật Thành từ Bắc Triều Tiên tiến đánh thủ đô Seoul của Hàn Quốc (ở giai đoạn ác liệt nhất tổng binh lực của hai bên: “Trung – Triều” + “Mỹ – Hàn Quốc – Liên hiệp quốc” trên chiến trường Triều Tiên lên đến hơn 3 triệu quân).

* LẬT NGƯỢC THẾ TRẬN TRIỀU TIÊN:

Được Mỹ tiếp cứu (xem Kỳ 52), cục diện của mặt trận đổi chiều. Ưu thế chiến trường không còn nằm trong tay Kim. Bởi hỏa lực của Lữ đoàn thủy quân lục chiến số 1 và Sư đoàn bộ binh số 2 Mỹ ít nhất đã giúp kìm giữ thế cân bằng của đôi bên, cho đến lúc có bước đột phá ngoạn mục của tướng Mac Arthur làm sụp đổ một mảng lớn trong cấu trúc của kế hoạch “tiến nhanh đánh nhanh” do Kim Nhật Thành soạn thảo (được Stalin và Mao Trạch Đông đồng thuận, duyệt trước). Diễn biến “sụp đổ” như sau :

Ngày thứ 80 của cuộc chiến 15.9.1950 (tính từ lúc quân Kim nổ súng mờ sáng 25.6.1950 trở đi): sau nhiều tuần cầm chân đại quân của Kim ở phía Nam (trên vĩ tuyến 35), tổng tư lệnh Mc Arthur bất thần điều động Quân đoàn 10 Mỹ phối hợp 5.000 thủy quân lục chiến Hàn Quốc, có 500 máy bay và 260 tàu chiến yểm trợ, đổ bộ chiếm Incheon (vĩ tuyến 37).

Incheon là vị trí quan trọng nằm sát thủ đô Seoul và án ngữ phía “sau lưng” đại quân của Kim. Vậy nên, chiếm được vị trí này, tướng Mc Arthur đã cắt đứt đường tiếp tế huyết mạch từ Bắc Triều Tiên xuống và chặn đường rút lui của quân Kim từ phía Nam lên – đẩy các sư đoàn chủ lực của Kim vào gọng kiềm Nam – Bắc (lọt giữa vĩ tuyến 35 – 37). Quân Kim hoang mang vì bị triệt đường lương thực – tiến thoái lưỡng nan.

Ngày thứ 90 (25.9.1950): Quân Mỹ chiếm lại thủ đô Seoul. Cùng lúc, giăng sẵn “lưới hỏa lực” đón đại quân Kim lúc bấy giờ đang rơi vào thế “lưỡng đầu thọ địch” nguy ngập. Vì trước mặt, bị phòng tuyến Pusan (ở vĩ tuyến 35) đón đầu. Sau lưng, bị lực lượng của tướng Mc Arthur (từ vĩ tuyến 37) dàn ra, chặn đánh. Thế cùng, quân Kim liều lĩnh “mở đường máu” thoát thân, với cái giá phải trả bằng hàng vạn thương vong, để lại xác chết ngỗn ngang trên đường rút chạy ra Bắc Triều Tiên.

Ngày thứ 114 (19.10.1950): Liên quân Mỹ và các nước Liên hiệp quốc trên đà truy kích tàn quân Kim đã tiến thẳng qua vĩ tuyến 38 vào lãnh thổ Bắc Triều Tiên, đánh chiếm luôn thủ đô Bình Nhưỡng, buộc Kim và bộ tham mưu phải bỏ chạy, phân tán nhiều ngã, thoát về “biên giới sông Áp Lục”.

Tướng Mc Arthur đưa quân đuổi theo, khẳng định: sông Áp Lục không phải là trở ngại nếu Mỹ muốn vượt qua để đánh vào nội địa Trung Quốc. Tại Bắc Kinh, nhận được lời cầu cứu của Kim Nhật Thành và đe dọa của tướng Mc Arthur, Mao Trạch Đông tạm dừng mọi việc, khẩn cấp triệu tập “hội nghị Triều Tiên”, tuyên bố xuất quân!

Cuộc đối đầu trực diện và đẫm máu kéo dài hơn 3 năm giữa quân đội Mao Trạch Đông và Truman bắt đầu.

Kỳ 55: Nếu không có “Bành đại tướng quân”…

Ngay lúc đại quân Kim sắp sa vào “địa võng” của tướng Mc Arthur, Stalin đã nhiều lần giục Mao xuất quân ứng cứu, nhưng Mao “chưa thể” – vì đang phải thuyết phục những tướng lãnh phản đối chủ trương “kháng Mỹ viện Triều” của Mao lúc đó…


Bành Đức Hoài và Mao Trạch Đông những năm 1950

Ngày 4.10.1950, Mao triệu tập hội nghị bất thường Bộ Chính trị mở rộng tại Trung Nam Hải bàn việc có “nên” hay “không nên” đưa quân sang giúp Bắc Triều Tiên. Phòng họp Di Niên Đường nóng hẳn lên bởi cuộc tranh luận gay gắt với phần lớn nghiêng về ý kiến “không nên động binh ra nước ngoài”, với lý do: Cuộc nội chiến trong nước chưa tắt hẳn tại vùng biển Đông hải và miền sơn cước Tây nam:

1. Ở vùng biển Đông hải: đang ủ sẵn nguy cơ “xung đột vũ trang” vì tổng thống Truman đã ngang nhiên đưa quân Mỹ chiếm đóng Đài Loan với danh nghĩa bảo vệ Chính phủ Trung Hoa dân quốc do Tưởng Giới Thạch làm tổng thống (giữa năm 1950).

2. Ở vùng sơn cước Tây nam: quân dân Tây Tạng chưa hoàn toàn hưởng ứng hiệu triệu của Chính phủ trung ương đối với việc “giải phóng hòa bình Tây Tạng”, nên đã “đóng cửa biên giới” và nổ súng kháng cự. Mãi đến thời điểm quân Mỹ đẩy lùi quân Kim về lại nơi xuất phát ở Bắc Triều Tiên (10.1950) – thì tại Trung Quốc, đại quân do Đặng Tiểu Bình và Lưu Bá Thừa chỉ huy mới “tiêu diệt được 5.700 quân Tạng, mở toang cánh cửa tiến vào Tây Tạng” và cuộc bình định đất Phật, giao tranh giành lấy “nóc nhà thế giới” chỉ mới bắt đầu – theo Mao Mao: Cha tôi Đặng Tiểu Bình, sđd ở Kỳ 53-54, tr. 835 (hơn một năm sau, tháng 11.1951 – cánh quân thiện chiến thuộc Cục Tây nam do Đặng Tiểu Bình làm bí thư thứ nhất, quyền tổng chỉ huy, mới chiếm được thủ đô Lhasa của Tây Tạng – GH).

Lý do nữa do các khai quốc công thần của Mao đưa ra để cản trở chủ trương “kháng Mỹ viện Triều” là: nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa còn quá non trẻ, mới tròn một tuổi (1.10.1949-1.10.1950), đang cần khôi phục nội lực, bắt tay xây dựng nền kinh tế sau chiến tranh, tích lũy ngân khố quốc gia, bồi đắp dần kho tàng đang hầu như trống rỗng.

Mao phải ra sức thuyết phục, viện dẫn Liên Xô đang tiếp sức để Trung Quốc tái thiết đất nước, cho Trung Quốc vay 300 triệu đô la Mỹ, giúp đào tạo đội ngũ chuyên gia vào công cuộc xây dựng kinh tế quốc dân và sức mạnh quốc phòng, theo đúng Hiệp ước hữu nghị và tương trợ Liên Xô – Trung Quốc ký cách đó mấy tháng (14.2.1950). Gần hơn (7.1950) Stalin cam kết sẽ trang bị khí tài đầy đủ cho 40 sư đoàn của Trung Quốc để “viện Triều” đánh Mỹ.

Hội nghị chuyển sang hướng ủng hộ Mao và đề cử Lâm Bưu đảm nhiệm Chí nguyện quân (vì Lâm Bưu từng làm tư lệnh Quân dã chiến Đông Bắc, rất rành đường đi nước bước ở “vùng biên giới sông Áp Lục” nên có thể xây dựng căn cứ hậu phương chiến lược vững chắc cho đại quân tham chiến) nhưng Lâm Bưu từ chối, viện lẽ:

– “Quân ta trang bị lạc hậu, đại đa số đều là thứ vũ khí cà khố cướp được của Nhật. Bên quân Mỹ mỗi quân đoàn có tới 1.500 khẩu pháo các loại, bên ta mỗi quân đoàn chưa nổi 300 khẩu pháo. Mà xe tăng thì lại càng ít ỏi. Nếu không có số lượng pháo binh và thiết giáp gấp 4, gấp 5 lần quân Mỹ, thì không tài nào trụ được và hậu quả sẽ không biết thế nào lường hết”. (Tôn Hồng Quân – Lương Tú Hà, sđd ở Kỳ 1, tr. 248).

Lâm biện bạch thêm Lâm đang bệnh, sức khỏe kém, khó đảm đương đại sự.

Đang lúc “khủng hoảng vì khiếm khuyết vai trò tư lệnh”, vào 16 giờ chiều hôm ấy, tướng Bành Đức Hoài đáp máy bay từ Tây An đến Bắc Kinh, xuất hiện trước cổng hội trường Di Niên Đường. Mao rất mừng, đích thân và ân cần bước khỏi phòng họp ra đón. Đêm ấy, Mao dẫn Bành Đức Hoài thả bộ trong khuôn viên Trung Nam Hải, nhắc chuyện: Kim Nhật Thành là đảng viên ruột rà, đã gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc từ năm 19 tuổi (1931), làm sư đoàn trưởng Sư đoàn 3, của Quân đoàn 2, thuộc Liên quân kháng Nhật vùng Đông Bắc giáp giới Triều Tiên – Trung Hoa năm 25 tuổi (1937), bị Nhật truy đuổi nên Kim phải vượt sông Amur lên đất Nga và trở thành sĩ quan của hồng quân Liên Xô. Bởi vậy Kim (với Mao Trạch Đông và Stalin) có mối quan hệ “đồng đảng” sâu xa. Mao kết luận:

Không giúp Kim thì giúp ai nữa? Mà giúp Kim, giúp Bắc Triều Tiên, trước hết cũng vì lợi ích an ninh quốc gia của Trung Quốc ! Thà đánh Mỹ ở ngoài nước còn hơn đánh Mỹ ngay trên đất Mao. Phải lấy Triều Tiên làm “vùng đệm” ngăn quân Mỹ trực tiếp đổ bộ gây chiến trên lãnh thổ Trung Hoa.

Thấm những lời phân tích lợi hại của Mao, Bành Đức Hoài tuyên bố (trước phiên họp toàn thể của hội nghị Bộ Chính trị mở rộng những ngày tiếp đó):

– Việc xuất quân giúp Triều Tiên là việc nhất thiết phải làm (…) nếu không, quân Mỹ yên vị được trên sông Áp Lục và Đài Loan, muốn xâm lược nước ta thì bất cứ lúc nào cũng sẵn có đủ cớ…

Hội nghị tán thành “viện Triều”.

Ngày 8.10.1950, Mao ký Quyết định tổ chức lực lượng “Quân chí nguyện nhân dân Trung Quốc”(sang chiến đấu trên chiến trường Triều Tiên) do Bành Đức Hoài làm Tư lệnh kiêm Chính ủy. Ngay hôm sau 9.10.1950 “cán bộ binh đoàn 13 và cán bộ cấp Quân đoàn trở lên của các đơn vị thuộc lực lượng tham chiến tới dự cuộc họp được tổ chức tại phòng họp khách sạn Liên Ninh nghe Bành Đức Hoài tuyên bố: “Tôi ra lệnh, tất cả các đơn vị tham chiến, nội trong 10 ngày kể từ giờ phút này, phải hoàn tất mọi công tác chuẩn bị cho việc xuất quân ra nước ngoài tác chiến”.

Qua 18.10.1950 “vào lúc hoàng hôn, đạo quân đầu tiên của Chí nguyện quân nhân dân Trung Quốc đi tiên phong, bắt đầu vượt qua sông Áp Lục, Bành Đức Hoài có mặt trong đội hình đạo quân tiên phong ấy” (Tôn Hồng Quân – Lương Tú Hà, sđd ở Kỳ 1, tr. 249-250).

Bên kia sông Áp Lục, liên quân Mỹ – Liên Hiệp Quốc vừa chiếm được 2/3 lãnh thổ Bắc Triều Tiên (gồm cả thủ đô Bình Nhưỡng lẫn vùng biên giới “nhạy cảm” với Trung Quốc) vẫn chưa hay biết địch thủ nguy hiểm của họ đang vượt “dòng sông định mệnh” hướng đến nơi đóng quân của Mỹ và đồng minh trước bình minh 19.10.1950 – mở đường cho bốn quân đoàn với ngót 260.000 quân Trung Quốc ồ ạt tiến theo sau, đặt chân lên chiến trường Bắc Triều Tiên 25.10.1950, mở màn cuộc đọ sức lịch sử giữa thống tướng Mc Arthur và nguyên soái Bành Đức Hoài.

Mãi mãi nước Mỹ nhắc đến Thống tướng tài hoa Mc Arthur 70 tuổi (sinh 1880) – thời chiến tranh Triều Tiên – thân mật vĩnh cửu như “người lính già không bao giờ chết”! Còn Mao Trạch Đông ca ngợi Bành nguyên soái 52 tuổi (sinh 1898) của mình: “Ai dám cầm gươm lên ngựa – ngoài Bành đại tướng của ta”? Trớ trêu là, cả hai danh tướng danh thần một thời: Mc Arthur và Bành Đức Hoài, sau này đều bị Truman và Mao Trạch Đông cách chức.

Kỳ 56: Mặt trận Triều Tiên với ‘Thái công binh pháp’

Mao Trạch Đông viện binh cho Kim Nhật Thành đông tới mức hơn 20 vạn quân ngay trong đợt đầu là điều ngạc nhiên lớn đối với tổng thống Mỹ Truman và vượt khỏi tiên liệu của tướng Mc Arthur…


Tướng McArthur – chỉ huy quân Mỹ và liên quân
trong chiến tranh Triều Tiên 1950 – 1953

Cơ quan trung ương tình báo Mỹ CIA cũng bất ngờ trước “biển người” Mao tung ra – vì đến tháng 10.1950 CIA vẫn giữ dự đoán ban đầu là Trung Quốc sẽ không tham chiến.

Càng về sau, Mao Trạch Đông càng tăng số quân ứng cứu Triều Tiên lên cao. Theo một tài liệu của phía Trung Quốc (xuất bản năm 2007), Mao Trạch Đông “đã đưa sang mặt trận Triều Tiên27 quân đoàn bộ binh, 15 sư đoàn pháo binh, 12 sư đoàn không quân, 3 sư đoàn xe tăng, 14 sư đoàn công binh, 10 sư đoàn đường sắt, 2 sư đoàn công an, tổng cộng: 1.340.000 quân”.

Nguyên soái Bành Đức Hoài không dụng binh theo cách “đánh nhanh thắng nhanh” của Kim Nhật Thành. Ông đưa quân đánh thăm dò trước, xem thực lực và chiến thuật của đối phương ra sao, rồi dừng lại tản ra, tạt ngang lên các vùng núi hai bên đường hành quân, hệt như bài bản “chưa bao giờ lỗi thời” của Tôn Vũ – bậc thầy các binh gia thời Xuân Thu chiến quốc: “nếu phải vượt qua vùng núi non thì dựa vào khe suối, mặt trông về đường sống mà đóng nơi cao đánh xuống” (Tôn Tử binh pháp, Lê Xuân Mai dịch).

Thoạt đầu, liên quân Mỹ – LHQ và Hàn Quốc đánh giá khá thấp về sức mạnh của đối phương, họ nghĩ rằng quân Trung Quốc “tránh đụng độ lớn”, nên tìm đường vòng lên núi “ẩn náu”.

Ngộ nhận đó phải trả giá trước những đợt công kích bất thần của quân đội Bành Đức Hoài dọc sông Chongchon, đánh bật lực lượng LHQ và Hàn Quốc ra khỏi các vị trí then chốt của mặt trận miền Tây.

Ở miền Đông, đội quân “từ trên núi” kéo xuống hồ nước Chosin đông đến 5 – 6 sư đoàn đã vây kín lực lượng bộ binh và thủy quân lục chiến Mỹ buộc lực lượng này phải đổi lấy 15.000 quân bị thương vong cho cuộc phá vây, tháo chạy về hướng Nam.

Nguyên nhân tan vỡ nhanh chóng ở hai mặt trận trên được các tác giả Âu Mỹ như Bevin Alexander, Robert Watson, James Schnabel, William Hopkins đề cập trong các phân tích về chiến tranh Triều Tiên, nhắc đến những ngỡ ngàng, lúng túng của liên quân Mỹ – LHQ trước chiến thuật tấn công của quân Trung Quốc.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (mục “Chiến tranh Triều Tiên”) trích dịch một đoạn của Roy Appleman về chiến thuật đó như sau: binh sĩ Trung Quốc đặc biệt lão luyện trong chiến đấu về đêm”. Họ tấn công nhằm vào phía sau lưng của đối phương, cắt đứt đường rút lui và đường tiếp vận để đánh mặt trước và bên sườn kết thúc trận chiến.

Thông thường đội hình chữ V được họ triển khai như miệng của một “cái phểu” để đưa đối phương vào “vòng xoáy” hỏa lực khi hai cạnh của chữ V được khép lại sau đó”- cùng lúc một lực lượng khác di chuyển phía dưới miệng chữ V để đón chặn bất cứ lực lượng nào cố giải vây cho đơn vị đang bị bao vây. Các chiến thuật như thế của Trung Hoa đã được sử dụng với những thành công to lớn tại Onjong, Unsan, và Chosin”.

Những chiến binh của Anh, Úc, Canada, Thổ Nhĩ Kỳ lúng túng trước cách đánh trên: “Quân Trung Quốc lập lại các chiến thuật trước đây của họ là tấn công chủ yếu vào ban đêm, với cách đánh thăm dò từ các vị trí xa mặt trận, sau đó là một đợt xung phong với số lượng quân áp đảo, và dùng kèn, cồng chiêng để liên lạc và đánh lạc hướng quân địch. Các lực lượng LHQ không có thuốc trị cho chiến thuật này nên sức kháng cự của họ sa sút, rút lui nhanh về miền Nam”.

Tiếng kèn, tiếng cồng chiêng, tiếng súng và tiếng thét xung phong vang động trong đêm đã có tác động áp đảo tinh thần các chiến binh người Pháp, Anh, Canada, Úc, Thổ Nhĩ Kỳ… Họ ngỡ ngàng trước “bầu âm thanh” mà Bành nguyên soái đem vào mặt trận, như bản “hòa điệu của tử thần” bên giao thông hào giữa thế kỷ 20 vốn đã từng được đề cập đến trong những cuốn binh thư Trung Quốc từ hơn 2500 năm trước. Xin trích “bên lề” mấy dòng về ứng dụng “âm điệu ngũ hành” trên chiến trường:

“Võ Vương hỏi Thái công: Nghe âm thanh luật quản (nhạc cụ chế bằng ống trúc để làm tiêu chuẩn cho các âm thanh) có thể biết được tin tức của ba quân, có quyết định thắng bại hay không?.

Thái công đáp: Câu hỏi của vua thật là sâu sắc (…) phương pháp áp dụng là nhân lúc trời trong sáng không mây mù mưa gió, nửa đêm đem quân đột nhập thành lũy địch, cách hơn chín trăm bước, tay cầm luật quản (nhạc cụ), gào thét bên tai địch, trong âm thanh kinh động xen lẫn tiếng quản nghe rất nhỏ. Tiếng trổ âm giác (mộc) thì dùng bạch bổ (kim), trổ âm thủy (hỏa) thì dùng huyền vũ (thủy), trổ âm thượng (kim) thì dùng chu tước (hỏa), trỗ âm vũ (thủy) thì dùng câu trần (thổ). Tiếng quản chấm dứt không trổ âm nào là cung (thổ) thì dùng thanh long (mộc). Đấy là âm hiệu ngũ hành giúp cho chiến thắng, là cơ sở của sự thành bại. Võ Vương nói: Hay lắm” (Thập nhị binh thư – phần Thái công binh pháp – Lê Xuân Mai, Nguyễn Ngọc Tĩnh, Đỗ Mộng Khương dịch, NXB Thời Đại, Hà Nội quý IV-2010, tr. 39-40).

Trở lại mặt trận Triều Tiên, sau hơn hai tháng tiến công (tính từ 25.10.1950), liên quân Trung – Triều đẩy lùi liên quân Mỹ – LHQ – Hàn Quốc khỏi vĩ tuyến 38 và đánh chiếm thủ đô Seoul của Hàn Quốc lần nữa vào thứ năm 4.1.1951 – dẫn đến những phác thảo nguy hiểm của tổng thống Truman và tướng Mc Arthur về “giải pháp mới cho cuộc chiến Triều Tiên bằng bom nguyên tử”

Advertisements

Leave a comment

Filed under Uncategorized

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s