Mao Trạch Đông qua sách báo Trung Quốc ngày nay 20

Kỳ 60: Giải mật hồ sơ “chạy đua vào cõi chết”
Kỳ 61: Triều Tiên – Việt Nam: “Tuy hai mà một”…
Kỳ 62: Nhà Trắng trước cơn bão ‘ngoại giao màu đỏ’

Kỳ 60: Giải mật hồ sơ “chạy đua vào cõi chết”

Giao Hưởng Đăng Bởi Một Thế Giới – 28-09-2014

Chưa đầy một năm sau ngày Trung Quốc thử nghiệm thành công quả bom nguyên tử đầu tiên (10.1964), Mao Trạch Đông đã lớn tiếng tuyên bố: “ Trung Quốc phải giành lấy Đông nam châu Á bao gồm cả miền nam Việt Nam…” (8.1965).


Tên lửa chiến thuật của Liên Xô triển khai tại Cu Ba, nhắm vào nước Mỹ

Lúc chưa có gì, Trung Quốc mang “mặc cảm hạt nhân” trước những lời đe dọa của Mỹ.

Khi đã sở hữu vũ khí nguyên tử, Mao Trạch Đông quay ra “đe dọa” các nước láng giềng của mình. Bằng chứng: tại cuộc họp bộ chính trị Đảng Cộng Sản Trung Quốc tháng 8.1965, Mao Trạch Đông hô hào:

– “Chúng ta phải giành cho được Đông nam châu Á, bao gồm cả miền nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore … Một vùng như Đông nam châu Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản.. xứng đáng với sự cần thiết phải chiếm lấy… Sau khi giành được Đông nam châu Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh của chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô – Đông Âu, gió Đông sẽ thổi bạt gió Tây” (Văn kiện của Bộ Ngoại giao CHXHVN: “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua”công bố ngày 4.1.1979).

Muốn “thổi bạt gió Tây” và chen lên ngôi “bá chủ” toàn cầu, chuyển thế giới “hai cực” (Mỹ – Liên Xô) thành “ba cực” (Mỹ – Liên Xô – Trung Quốc) theo công thức Kissinger, Mao Trạch Đông phải lật ngược chính sách liên minh:

1. Xem Liên Xô là kẻ thù – khi mà trước đó, trong chiến tranh Triều Tiên – Trung Quốc và Liên Xô là “hai nước anh em” sát cánh đánh Mỹ.

2. Xem Mỹ là bạn – dầu trong chiến tranh Triều Tiên, Mỹ là địch thủ “không đội trời chung” đã gây thương vong cho khoảng 1 triệu quân Trung Quốc (song Trung Quốc chỉ thừa nhận: Trung Quốc và Bắc Triều Tiên thương vong 1.103.000 người. Riêng Trung Quốc là 300.000 người, với 115.000 quân chết trận).

Với đối sách trên, Mao Trạch Đông nghênh đón tổng thống Mỹ Nixon sang thăm Bắc Kinh (xemkỳ 25). Tại hội đàm Trung Nam Hải, Nixon nói với Mao Trạch Đông:

“Người Trung Quốc và người Mỹ chúng ta xích lại gần nhau không phải bằng lời lẽ triết lý hoặc hữu nghị mà do mệnh lệnh của nền an ninh quốc gia (của Mỹ và Trung Quốc). Tôi cho rằng các quyền lợi của chúng ta là chung trong các lãnh vực…” (Hồi ký Richard Nixon – sđd. ở Kỳ 24, tr.697).

Từ “quyền lợi chung” đó, Nixon lưu ý Mao Trạch Đông về lực lượng hạt nhân của Liên Xô “đã tiến bộ với một tốc độ đáng sợ trong vòng 4 năm qua – từ 1968-1972 (Richard Nixon – sđd. tr.692).

Sau chuyến thăm Trung Quốc bảy năm, hai nước Trung Quốc – Mỹ chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao (1.1.1979) dưới “thời Đặng Tiểu Bình”. Và Đặng Tiểu Bình kế tục Mao Trạch Đông liên minh với Mỹ “thời tổng thống Jimmy Carter”. Carter đã ký văn bản chuẩn y kế hoạch siêu mật về cuộc “chiến tranh hạt nhân hạn chế” tấn công Liên Xô và các nước Đông Âu. Tên gọi kế hoạch là: “President Directive 59”: PD59ngày 25.7.1980.

Hơn 30 năm sau, tài liệu PD59 được Cục lưu trữ hồ sơ quốc gia Mỹ – Nara giải mật, cho biết cuộc chiến hạt nhân sẽ do Mỹ chủ động đánh trước, ít nhất theo hai đợt. Đợt đầu, nhằm làm tê liệt khả năng phòng thủ và hủy diệt các trung tâm công nghiệp Liên Xô và các nước đông Âu. Sẽ tùy theo mức độ thiệt hại của đối phương để tính toán đánh đợt thứ 2 tiếp đó.

Do yêu cầu “tối mật”, nên nhiều lãnh đạo hàng đầu trong chính phủ Mỹ như ngoại trưởng Edmun Muskie vẫn không được hỏi ý kiến và không hay biết gì. Cố vấn an ninh quốc gia Zbigniew Brezinski và bộ trưởng Quốc phòng Harold Brown cùng tướng William Odom chịu trách nhiệm mở các đợt diễn tập, chuyển vũ khí hạt nhân vào vị trí tấn công thường trực, hướng đến các mục tiêu chấm sẵn trên “bản đồ quân sự” theo đúng “chỉ thị PD 59” siêu mật.

Về mặt công khai, trước ngày Carter chuẩn y PD59 khoảng một tháng, Bộ trưởng Quốc phòng Anh tuyên bố đồng ý cho Mỹ đặt 160 tên lửa hạt nhân cách thủ đô Luân Đôn 97km chĩa về phía Liên Xô. Chuyên gia Marsall Shulman khẳng định “cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân đe dọa sự sống còn cho cả hai phía”. vì rõ ràng “không ai có thể chiến thắng trong cuộc đối đầu hạt nhân”., đó chỉ là:cuộc chạy đua vào cõi chết”.

Kỳ 61: Triều Tiên – Việt Nam: “Tuy hai mà một”…

Máy bay Mỹ oanh kích dữ dội chí nguyện quân của Mao Trạch Đông trên chiến trường Triều Tiên đồng thời xuất hiện trên bầu trời Việt Nam đánh phá lực lượng Việt Minh trong cùng một thời điểm 1950 – 1953…


Tướng McArthur quan sát lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ lên bờ biển Triều Tiên

Đối với Mao Trạch Đông, Triều Tiên và Việt Nam là “hai vùng đệm lý tưởng của cùng một lá chắn quốc phòng” của Trung Quốc, trấn giữ biên giới phía Đông Bắc (Triều Tiên) và Đông Nam (Việt Nam) nhằm ngăn chặn cuộc tấn công trực tiếp của quân đội Mỹ vào lục địa Trung Hoa.

Đối với Truman, Triều Tiên và Việt Nam là “hai mặt trận của cùng một chiến lược chống Cộng”nhằm ngăn chận “làn sóng đỏ” đang chực tràn xuống các nước Đông Nam Á.

Vậy nên, cả Mao Trạch Đông lẫn Truman luôn tìm cách tăng cường ảnh hưởng trên lãnh thổ của hai quốc gia “nhạy cảm” này. Truman tuyên bố công cuộc phòng thủ nước Mỹ phải vươn tới Triều Tiên và Đông Dương (chủ yếu là Việt Nam) – 26.5.1952. Nên (vào giai đoạn đỉnh điểm của chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh) Mỹ đã gánh gần 80% chiến phí với hy vọng Pháp sẽ thắng. Truman cho rằng nếu Đông Dương “sụp đổ về tay Cộng sản sẽ là một tai họa – ảnh hưởng trực tiếp đến tinh thần các lực lượng Liên Hiệp Quốc đang chiến đấu ở Triều Tiên” – theo AFP 22.2.1953.

* TRUMAN: “HỒ CHÍ MINH LÀ AI” ?

Trước ngày quyết định can thiệp vào cuộc chiến Việt Nam, Truman một lần nữa hỏi giám đốc CIA Roscoe: thật ra Hồ Chí Minh là ai?

Roscoe nhắc lại, Hồ Chí Minh “xuất hiện công khai năm 1945 lúc 55 tuổi, là đảng viên Cộng sản đã 25 năm, là một trong những người sáng lập ra Đảng Cộng sản Pháp, một cán bộ quốc tế Cộng sản trong 15 năm trước thế chiến II và là một đảng viên Mác-xít chính thống”. Ngừng một chút, Roscoe nói tiếp: khi chiến tranh thế giới lần thứ hai nổ ra, Hồ Chí Minh “đã tập hợp những người có nhiệt tình quốc gia và đứng đầu cuộc kháng chiến chống Pháp của Việt Nam, trở thành hiện thân của tinh thần quốc gia của người Việt Nam”.

Truman bắt bẻ: “cộng kết luận thứ nhất về Hồ Chí Minh là “cộng sản chính thống” với kết luận thứ hai “quốc gia tận tụy” thì Hồ Chí Minh theo “chủ nghĩa Cộng sản quốc gia” à ?

Roscoe không đáp thẳng câu hỏi của Truman. Ông trả lời gián tiếp là Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam “có thể chấp nhận chế độ trung lập như Thụy Sĩ” để “hoàn tất mục tiêu độc lập quốc gia”(Trần Trọng Trung sđd. ở Kỳ 53-54, tr. 123). Truman không khỏi “khó chịu” khi Roscoe giải thích sự kiện một sĩ quan cao cấp của tình báo Mỹ bị bắn tại Sài Gòn (Tài liệu của Ban tổng kết chiến tranh Thành ủy TP. HCM viết: “ngày 28.9 (1945), một chiếc xe jeep chở 2 sĩ quan địch từ cầu Kiệu theo đường Paul Blanchy (nay là đường Hai Bà Trưng) lên Gò Vấp để dò xét tình hình. Đến hẻm Cây Dương ngang chùa Bà Chúa, cách ngã ba Chú Ía vài trăm mét, xe lọt vào trận địa phục kích của ta. Du kích đã bắn chết sĩ quan da trắng và bắt sống một sĩ quan Nhật”). Sĩ quan “da trắng” là đại tá Mỹ Peter Dewey – cố vấn tình báo cho quân đội Pháp và là sĩ quan cao cấp Mỹ đầu tiên bị chết tại Việt Nam.

Cuối đàm thoại, Truman muốn biết thêm về “ẩn số” Việt Minh. Roscoe báo cáo nhanh:

– Cơ quan O.S.S của ta đã dựa vào Việt Minh mà có những tin tức tình báo đáng tin cậy về hoạt động của phát-xít Nhật ở Đông Dương. Các phi công đồng minh mỗi khi máy bay bị trúng đạn, đã buộc phải nhảy dù xuống đất Việt Nam trong chiến đấu với quân Nhật, đã từng được Việt Minh cứu sống và đưa sang Hoa Nam an toàn như trường hợp phi công Shaw được cứu sống ở Cao Bằng cuối năm 1944. Hồi đó theo chỉ thị của tổng thống Roosevelt chúng ta quả đã cung cấp một số vũ khí vừa phải cho Việt Minh ở vùng thượng du Bắc Kỳ (Trần Trọng Trung, sđd. tr. 116).

Sau này, Sedgwich Tourison – một cựu điệp viên CIA hoạt động nhiều năm ở Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan (và là thành viên của Ủy ban đặc biệt Thượng nghị viện Mỹ chuyên trách về POW/MIA cho đến năm 1993) viết:

“Việt Minh đã biết Mỹ tiến hành hoạt động bí mật ở Đông Dương như thế nào thông qua các sĩ quan OSS – những người đã đào tạo các nhân viên Việt Nam hoạt động theo kiểu Mỹ. Việc làm đầu tiên của Patti (phụ trách khu vực Bắc Đông Dương của Cục tình báo chiến lược Mỹ đóng ở Côn Minh – Trung Quốc) là gặp lãnh tụ Việt Nam Hồ Chí Minh ở Trung Quốc. Chẳng bao lâu sau đó, Hồ Chí Minh và những người Việt Nam khác được đưa vào hồ sơ của Patti như những người cộng tác của Mỹ” (Sedgwich Tourison – Đội quân bí mật, cuộc chiến bí mật” – Secret army, Secret war – NXB Naval Institute Press Annapolis MD. USA – 1995, nhóm Thiên Bảo dịch, Lương Văn Hưu – Phan Dũng – Tùng Lâm hiệu đính, NXB Công an Nhân dân – quý III.2004, tr. 18).

Sedgwich Tourison viết rõ hơn: Một trong những nhiệm vụ đầu tiên mà Hồ Chí Minh đã làm là lãnh đạo sự phối hợp của Việt Minh để thu thập và chuyển thông tin cho OSS ở Trung Quốc về các lực lượng của Nhật Bản ở Đông Dương (…) Cuối tháng 10 năm đó, Patti và các sĩ quan OSS khác rời Việt Nam với lá thư của chủ tịch Hồ Chí Minh gởi cho chính quyền Truman không được trả lời” (sđd. tr.20).

* TOÀN VĂN THƯ CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH GỞI TỔNG THỐNG MỸ TRUMAN

Toàn văn một trong 8 bức thư của chủ tịch Hồ Chí Minh gởi tổng thống Truman.

Hà Nội, ngày 16 tháng 2 năm 1946
Hồ Chí Minh, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hà Nội
Gửi tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ Washington DC

Thưa tổng thống,

Tôi xin nhân dịp này cảm ơn ngài và nhân dân Mỹ về sự quan tâm mà các đại diện của ngài tại Tổ chức Liên hợp quốc đã bày tỏ có lợi cho các dân tộc bị lệ thuộc. Nhân dân chúng tôi, ngay từ năm 1941, đã đứng về phía Đồng minh và chiến đấu chống Nhật và những kẻ liên kết với chúng, những người thực dân Pháp. Từ 1941 đến 1943, chúng tôi đã chiến đấu quyết liệt do lòng yêu nước của đồng bào chúng tôi và nhờ những lời hứa mà Đồng minh đã đưa ra ở Yalta, San Francisco và Postdam.

Khi người Nhật bị đánh bại tháng 8 năm 1945, toàn bộ lãnh thổ Việt Nam đã được đặt dưới quyền một chính phủ Cộng hòa lâm thời. Chính phủ đó đã lập tức bắt đầu hoạt động. Trong 5 tháng, hòa bình và trật tự đã được lập lại, một nền cộng hòa dân chủ đã được thiết lập trên những cơ sở hợp pháp và đã giúp đỡ đầy đủ Đồng minh trong cuộc tiến hành nhiệm vụ giải giáp của họ. Nhưng thực dân Pháp, trong thời chiến đã phản bội cả Đồng minh lẫn người Việt Nam, đã trở lại và tiến hành một cuộc chiến tranh giết người tàn nhẫn nhằm lập lại sự thống trị của chúng. Sự xâm lược của chúng đã được mở rộng ở miền Nam Việt Nam và đang đe dọa chúng tôi ở miền Bắc. Phải dùng nhiều quyển sách mới có thể tả vắn tắt được, những tội ác và giết chóc chúng đang phạm phải một ngày trong khu vực chiến đấu.

Sự xâm lược đó là trái với tất cả các nguyên tắc của luật pháp quốc tế với những lời cam kết mà Đồng minh đã đưa ra trong chiến tranh thế giới. Đó là một thách thức và nhân dân Mỹ đã bày tỏ trước, trong và sau chiến tranh. Nó trái ngược thô bạo với lập trường kiên quyết của ngài trong tuyên bố 12 điểm và trái với tính cao quý và sự rộng lượng lý tưởng mà những đại biểu của ngài tại Đại hội đồng Liên hợp quốc, như các ông Byrnes, Stettinius và G.P. Dalles đã bày tỏ.

Sự xâm lược của Pháp chống lại một nhân dân yêu chuộng hòa bình là một đe dọa trực tiếp đối với nền an ninh thế giới. Nó ngụ ý sự đồng lõa hoặc ít ra là sự làm ngơ của các nền đại dân chủ. Liên hợp quốc phải nói lên tiếng nói của mình. Họ phải can thiệp để chặn đứng cuộc chiến tranh phi nghĩa đó và để tỏ ra rằng họ thật sự thực hiện trong thời bình những nguyên tắc mà họ chiến đấu để giành lấy trong thời chiến.

Nhân dân Việt Nam chúng tôi, sau bao năm bị cướp bóc và tàn phá, mới bắt đầu công việc xây dựng. Cần phải có an ninh và tự do, trước tiên để giành thịnh vượng và phúc lợi nội bộ và để đóng góp phần nhỏ bé của mình vào công cuộc xây dựng lại thế giới.

Nền an ninh và tự do đó chỉ có thể được bảo đảm bằng nền độc lập của chúng tôi khỏi mọi cường quốc thực dân, và bằng sự hợp tác tự do của chúng tôi với tất cả các nước khác. Chính với lòng tin tưởng đó mà chúng tôi yêu cầu nước Mỹ, với tư cách là những người bảo vệ và những chiến sĩ của công bằng thế giới, có bước quyết định ủng hộ nền độc lập của chúng tôi.

Điều mà chúng tôi yêu cầu đã được đưa lại một cách hào hiệp cho Philippines. Cũng giống như Philippines, mục đích của chúng tôi là độc lập hoàn toàn và hợp tác hoàn toàn với Mỹ. Chúng tôi sẽ làm hết sức mình để cho nền độc lập và sự hợp tác đó có lợi cho toàn thế giới.

Thưa tổng thống
Rất trân trọng

HỒ CHÍ MINH

Thư trên được dịch và in trong cuốn”Lời phán quyết về Việt Nam” của Amter (sđd ở kỳ 57) với lời bàn: “Những yêu cầu của Hồ Chí Minh đã bị làm ngơ” – nếu có sự ủng hộ của Mỹ có thể Hồ Chí Minh “mặc dầu là cộng sản vẫn hữu nghị với Mỹ” vì: “Hồ Chí Minh không muốn Việt Nam bị người Trung Quốc, người Nga, hoặc bất cứ một nước lớn thực dân nào khác thống trị”. Và nếu được Truman đáp ứng “Mỹ có thể đã tránh khỏi được một cuộc chiến tranh tốn kém bi thảm ở Việt Nam về sau”

Nhưng ngược lại, Truman đã đưa tướng Brinsk đến Sài Gòn với hàng trăm máy bay đủ loại, từ Dakota, khu trục E6 đến Hellcat và Privateer... Tài liệu Trần Trọng Trung (đã dẫn) thông tin: đến tháng 6.1950 Mỹ viện trợ cấp tốc 25 triệu rưỡi USD cho quân đội Pháp ở Việt Nam. Tháng 10 năm ấy bổ sung thêm 275 triệu USD nữa. Từ 21.12.1950 đến 26.3.1951, Mỹ đã khẩn cấp tăng cường cho quân đội Pháp ở Sài Gòn và Hải Phòng: 76 máy bay B26, 40 máy bay Beercat, nhiều tàu công binh xưởng và tuần tiểu vũ trang, hỗ trợ để Pháp đưa thêm 15.000 quân tăng viện đến Việt Nam – chống đỡ các cuộc tấn công của lực lượng quân đội do đại tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy. Như vậy Mỹ đã cùng lúc mở hai mặt trận Triều Tiên và Việt Nam theo chiến lược chống Cộng toàn phần. Đến lúc thương vong cả hai bên lên cao, Truman đề nghị ngưng bắn nhưng Stalin (và Mao Trạch Đông) bác bỏ.

Kỳ 62: Nhà Trắng trước cơn bão ‘ngoại giao màu đỏ’

Stalin – Mao Trạch Đông và Kim Nhật Thành gần như cùng một lúc lên tiếng ủng hộ chính phủ Hồ Chí Minh (tháng 1.1950) gây bất ngờ lớn với tổng thống Truman khiến ông phải chuẩn y ngay đề nghị của Bộ Ngoại giao Mỹ công nhận chính phủ quốc gia của cựu hoàng Bảo Đại (tháng 2.1950)…


Tổng thống Mỹ Harry Truman

Mặc dầu đã bước vào kỳ nghỉ cuối năm, Truman vẫn triệu tập cuộc họp Hội đồng an ninh quốc gia (với liên bộ Ngoại giao – Quốc phòng và tình báo trung ương Mỹ CIA) vào 30.12.1949, để xác định “đường lối đối ngoại của Mỹ ở châu Á” trong năm mới. “Điểm nhấn” là: tăng cường viện trợ khẩn cấp cho quân đội Pháp ở Đông Dương để thay Mỹ “đánh bại Việt Minh” – và đương nhiên phủ nhận chính phủ Hồ Chí Minh.

Trước định hướng dứt khoát của Truman, chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố qua Đài tiếng nói Việt Nam rằng, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính phủ hợp pháp duy nhất của nhân dân Việt Nam, sẵn sàng đặt quan hệ ngoại giao với tất cả chính phủ nước nào “tôn trọng quyền bình đẳng, chủ quyền lãnh thổ và chủ quyền quốc gia của nước Việt Nam” -14.1.1950.

Đáp ứng tuyên bố trên, một loạt 10 quốc gia đầu tiên trên thế giới công nhận và chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với chính phủ VNDC Cộng hòa (đang trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp) do Hồ Chí Minh làm chủ tịch, lần lượt như sau:

1. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (18.1.1950).
2. Liên bang Cộng hòa XHCN Xô Viết (Liên Xô – 30.1.1950)
3. Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên – 30.1.1950)
4. Cộng hòa XHCN Tiệp Khắc (2.2.1950).
5. Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức – 3.2.1950)
6. Cộng hòa Nhân dân Hungarie (3.2.1950)
7. Cộng hòa XHCN Roumanie (3.2.1950)
8. Cộng hòa Nhân dân Ba Lan (4.2.1950)
9. Cộng hòa Nhân dân Bulgarie (8.2.1950)
10. Cộng hòa Nhân dân XHCN Albanie (11.2.1950)

Mao Trạch Đông công nhận chính phủ Hồ Chí Minh ngày 18.1, thì ngay đêm đó, lực lượng kháng chiến của Việt Minh tập kích sân bay Bạch Mai, phá hủy hàng chục máy bay và đốt cháy hơn một triệu lít nhiên liệu. Hai hôm sau 20.1, từ Nhà Trắng, Truman vội vã công bố chính sách về Đông Dương trước những hoạt động quân sự của Việt Minh.

Stalin công nhận chính phủ Hồ Chí Minh ngày 30.1, thì ngay hôm sau 31.1, Truman họp lãnh đạo Nhà Trắng, để Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ Dean Acheson tuyên bố trên Đài tiếng nói Hoa Kỳ (1.2.1950): “Chính phủ Mỹ hoàn toàn bất ngờ trước việc Liên Xô công nhận Việt Nam” và qua đó “Mỹ không còn ảo tưởng gì về động cơ quốc gia trong các mục tiêu chính trị của ông Hồ Chí Minh nữa” – nhất là càng khiến Mỹ phải “thúc đẩy nhanh hơn tiến trình thực hiện chính sách ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản ở vùng châu Á – Thái Bình Dương và nhân dịp này chính phủ Mỹ gởi lời chào mừng tốt đẹp nhất đến chính phủ quốc gia của cựu hoàng Bảo Đại”.

Tiếp đó 2.2.1950, một cách nhanh chóng hiếm có, Acheson đệ trình lên tổng thống Truman một bị vong lục đề nghị Mỹ chính thức công nhận chính phủ quốc gia của cựu hoàng Bảo Đại. Ngay hôm sau 3.2.1950, Truman hạ bút ký văn bản chuẩn y và gởi đến cựu hoàng Bảo Đại bức công hàm do tổng lãnh sự Mỹ ở Sài Gòn chuyển giao: “Chính phủ Hoa Kỳ vui mừng được chào đón Cộng hòa Việt Nam gia nhập cộng đồng các quốc gia yêu chuộng hòa bình trên thế giới và chúc mừng chính phủ của ngài được chính thức công nhận quan hệ ngoại giao…” – theo Trần Trọng Trung, sđd. tr. 130-135.

Để “minh họa” lập trường về Đông Dương, qua tháng 3.1950 Truman đưa tàu chiến thuộc Hạm đội 7, dưới quyền đô đốc Arleigh Burke, kéo đến vùng biển Việt Nam. Hai chiến hạm Stickell và Anderson vào cảng Sài Gòn, bị dân chúng biểu tình phản đối (19.3). Gần 70 máy bay Mỹ bay lượn thám sát miền trung Việt Nam để “thị uy và răn đe” bộ binh của tướng Võ Nguyên Giáp “đang có khả năng” di chuyển quanh vùng núi Trị – Thiên và chiến khu Nam Ngãi Bình Phú.

Nhưng bấy giờ, mục tiêu của tướng Giáp không nằm ở miền Trung, hoặc miền Nam, mà tại vùng biên giới phía Bắc Việt Nam. Với chiến dịch tấn công kéo dài từ 16.9 đến 14.10.1950, tướng Giáp đã đẩy lùi lực lượng quân chính quy của tướng Carpentier khỏi tuyến phòng thủ Cao Bằng – Lạng Sơn, loại khỏi vòng chiến đấu 10 tiểu đoàn Pháp với trên 8.000 quân, thu hơn 3.000 tấn vũ khí và phương tiện chiến tranh, giải phóng một khu vực biên giới rộng lớn từ Cao Bằng đến Đình Lập.

Bộ tham mưu Pháp chính thức thừa nhận “chừng 5.000 quân bị giết và bị bắt (tức khoảng 2% tổng số binh lực Pháp – Đông Dương) với khoảng một vạn súng các loại lọt vào tay đối phương”.Quan trọng nhất, qua chiến dịch trên, tướng Giáp đã xoay ngược cục diện chiến tranh Pháp – Việt, đẩy quân Pháp vào thế bị động (phải chuyển sang phòng ngự) và đưa lực lượng vũ trang Việt Nam bước qua giai đoạn phản công (tiến công chiến lược) vào cuối năm 1950.

Cao ủy Pháp Pignon phải “ban bố tình trạng khẩn cấp trên toàn miền Bắc Đông Dương”. Cùngthời điểm ấy – ở mặt trận Triều Tiên, nguyên soái Bành Đức Hoài đã đẩy lùi liên quân của tướng Mc Arthur về phía Nam vĩ tuyến 38. Mc Arthur phải chấp nhận thực hiện cuộc rút lui chiến thuật của hơn 100.000 quân Mỹ và 98.000 thường dân Triều Tiên khỏi thành phố cảng Hungnam để tạm tránh những đợt tấn công “biển người” đang tràn qua vùng phi quân sự.

Advertisements

Leave a comment

Filed under Uncategorized

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s