Trăm năm trồng người

Tú Kép (BĐX) – Ngày xưa, nước Tàu chưa thống nhất, gồm nhiều nước nhỏ: Châu, Hàn, Lỗ, Tần, Tống, Tề, Triệu, Tùy… Trong số các nước nhỏ nầy, có một chính khách lỗi lạc là Quản Trọng, tên là Quản Di Ngô, năm sinh không rõ, mất năm 645, nghĩa là sống vào thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên, làm tể tướng nước Tề, đã nói một câu để đời: “Nhất niên chi kế tại ư thụ cốc; thập niên chi kế tại ư thụ mộc; bách niên chi kế tại ư thụ nhân.” (Kế một năm trồng lúa, kế mười năm trồng cây, kế trăm năm trồng người.) 

� Xem thêm: Về hai câu thơ thường bị nhầm là của HCM.

Câu nầy vốn đã bất hủ, lại càng bất hủ thêm, vì sau Quản Trọng hơn hai ngàn năm, có viên chủ tịch nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa là Hồ Chí Minh chôm lại. Chủ tịch mà cũng chôm, nên cán bộ chôm chôm (chôm nhiều lần gọi là chôm chôm) tham nhũng là phải. Viên chủ tịch chơi trội hơn, dự tính chôm câu nầy làm tài sản văn hóa riêng của chủ tịch.

Trong bài nói chuyện tại lớp học tập chính trị khoảng hơn 3,000 giáo viên cấp 2 và cấp 3 miền Bắc, tổ chức tại Hà Nội ngày 13-9-1958, chủ tịch cà lăm lại rằng: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. “(Báo Nhân Dân ngày 14-9-1958) Câu khẩu hiệu nầy được treo ở tất cả các trường đại học và trung tiểu học dưới chế độ cộng sản. Câu khẩu hiệu nầy được sách vở Cộng Sản xem là tư tưởng vĩ đại của chủ tịch chôm chỉa về kế hoạch đào tạo nhân tài cho đất nước xã hội chủ nghĩa, mặc dầu mái trường xã hội chủ nghĩa chỉ trồng toàn cây lá đỏ mà thôi.

Trong khi đó, sau Quản Trọng vài trăm năm, có một người ứng dụng câu nói của Quản Trọng vào công việc bi-dzi-nét. Đó là Lã Bất Vi. Ông nhà buôn nầy rất giàu có, ở đất Dương Địch, nay là Vũ Châu thuộc tỉnh Hà Nam, nước Tàu. Trong nghề lái buôn, Lã Bất Vi cho rằng buôn vua là mau giàu nhất. Nghĩa là ông có sáng kiến đặc biệt trồng người làm vua kiếm lời. Thực là thiên nan vạn nan, mà ông lại quyết làm cho được.

Lúc đó, tại kinh đô Hàm Dương nước Triệu, công tử nước Tần là Dị Nhân bị vua Triêu giữ làm con tin. Công tử Dị Nhân là con trai thứ của An Quốc Quân tên là Trụ, tự là Tử Hề, là thái tử của vua Chiêu Tương Vương nước Tần. Mẹ Dị Nhân là Hạ Cơ chết sớm. An Quốc Quân có hơn 20 người con trai, trong đó có Dị Nhân, nhưng đều là con của nàng hầu, nên ông chưa chọn ai làm thái tử. An Quốc Quân sủng ái nhất bà phi tên là Hoa Dương phu nhân. Bà nầy lại không có con.

Biết được bí mật nầy, Lã Bất Vi mở dịch vụ buôn vua, bắt đầu bằng cách làm quen và giúp đỡ Dị Nhân. Lã Bất Vi có người vợ hầu tên là Triệu Cơ đã có mang với ông ta. Lã Bất Vi liền gả Triệu Cơ cho Dị Nhân. Sau đó Lã Bất Vi khuyên Dị Nhân xin làm con nuôi Hoa Dương phu nhân để về sau kế vị An Quốc Quân. Cuối cùng, Lã Bất Vi bày mưu đưa Dị Nhân về nước Tần, lên làm thái tử của An Quốc Công. Quả thật, về sau, theo đúng kế hoạch của Lã Bất Vi, Dị Nhân lên ngôi vua nước Tần, tức Trang Tương Vương.

Trang Tương Vương cử Lã Bất Vi làm thừa tướng, phong tước Văn Tín Hầu và dĩ nhiên Lã bất Vi âm thầm tiếp tục cuộc tình với nàng Triêu Cơ. Ngôi thừa tướng là bậc nhất thiên hạ, chỉ dưới vua, nhưng chưa xong. Trang Tương Vương từ trần. Con của Trang Tương Vương là Tần Vương Chính, mới sáu tuổi lên thay. Tần Vương Chính là con của Lã Bất Vi với nàng hầu Triệu Cơ, nay là mẹ vua và là người tình của Lã Bất Vi. Lã Bất Vi bây giờ là cha vua. Nhất thiên hạ.

Lã Bất Vi tiếp tục làm thừa tướng. Khi lớn lên, Tần Vương Chính thống nhất Trung Hoa, lên ngôi hoàng đế, tức Tần Thủy Hoàng (làm vua 221-210 trước Công nguyên). Dù kết cuộc không tốt đẹp, nhưng Lã Bất Vi là người nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa về nghề buôn người làm vua, hay nghề trồng vua, giàu có hơn nghề trồng cỏ hiện nay ở Bắc Mỹ. (Cỏ gì thì độc giả dư biết.)

Ở Việt Nam cũng có một chuyện trồng người, nhưng ly kỳ hơn vì việc trồng người không phải chỉ xảy ra một lần trong một đời người, mà liên tiếp hai lần trong hai đời kế nhau của một gia đình. Người Việt mình hay gọi đó là cái số. Mấy ông thầy tử vi gọi là trùng tinh.

Số là ở Nghệ An, có một gia đình khá giả rước thầy về dạy học. Ông thầy nầy là một người hào hoa, nổi tiếng học giỏi nhất vùng. Ông chẳng những hào hào mà ông còn phong nhĩ (phong là gió, nhĩ là tai). Nhờ phong nhĩ nên ông vừa có tài dạy chữ thánh hiền, mà còn vừa có tài trồng người rất thành công.

Vì vậy, cô con gái của gia chủ không chồng mà chửa mới ngoan. Gia chủ phải tìm cách chữa cháy, tổ chức chiêu rể cho con. Người ăn ốc, kẻ hốt vỏ. Cũng may, cháu bé tuy ra đời trong hoàn cảnh éo le, đã cố gắng vươn lên, đậu tới phó tiến sĩ, làm cho gia đình hiển hách.

Ngang đây, mới chỉ là tập một của câu chuyện trồng người, trồng phó tiến sĩ. Đến đời ông phó tiến sĩ, ông có người con trai út, học hành chẳng ra gì, chữ Nho không đỗ đạt, chữ Tây mới ri-me tức tiểu học. Với trình độ học lực không ra cái thống chế gì trong thời đại khoa bảng, anh nầy chẳng làm được việc gì ra trò, mà lại ham làm quan.

Anh ta liền đổi tên là Ba, xuống tàu Tây, làm nghề phụ bếp, thổi lò, xúc than, phiêu bạt giang hồ khắp nơi. Qua tới đất Ba Lê hoa lệ, anh Ba phụ bếp nạp đơn xin vào học trường Thuộc Địa Tây để về làm quan ta, nhưng tụi Tây thực dân tinh ma quá, biết anh nầy chẳng học hành gì, gạt bỏ, không cho anh Ba học làm quan bởi vì làm quan mà vô học thì chẳng giống ai.

Thật là quá bậy. Lúc đó giá mà Tây thực dân chịu nhận cho anh Ba phụ bếp vào học làm quan, thì làm gì có chuyện ra đi tìm đường cứu nước. Mà toàn chuyện làm bếp ăn nhậu phải khỏe re không hà?

Không được vào học trường làm quan, anh Ba phụ bếp tức quá, tiếp tục cuộc phiêu lưu, nhưng từ đây anh Ba để bụng “thù tây”, mà chữ Tàu gọi là “ố Pháp”. Tìm kiếm công danh trong xã hội trọng chữ nghĩa không phải là chuyện dễ ở cái xứ Phú Lang Sa.

Vì vậy anh Ba rất mừng khi được một tên Tây đỏ chọn qua Liên Xô, học cái thứ chủ nghĩa tố cha, mắng mẹ, phản thầy, phỉnh bạn, đem về áp dụng ở Việt Nam. Y ta còn tổ chức một đảng chuyên cộng chứ không bao giờ trừ cho ai tý gì, tức là cướp thì được chứ nhất định không nhả ra, vừa bóc vừa lột rất tinh vi. Tinh vi đến độ người bị bóc bị lột chỉ còn một cái quần xà-lỏn, thì mới tỉnh giấc mơ hoa, nhưng ô hô, đã quá trễ rồi.

Nhờ thời thế, anh Ba chớp được quyền lực, danh trấn giang hồ, tiếng tăm nổi như cồn, lừng lẫy đến nỗi khi anh Ba chẳng may hui nhị tỳ, thì xác anh Ba được đám đệ tử ướp mắm ướp muối và lộng kiếng đặt ngay ở giữa thủ đô, để hù dọa bà con cô bác. Con bò mà lười cày bừa, dọa đến tên anh Ba là nó tức khắc đứng lên xung phong lao động xã hội chủ nghĩa, vì nó rất sợ anh Ba gởi đi học tập cải tạo.

Chuyện đời ngang đây cũng chưa hấp dẫn. Hấp dẫn ở chỗ vài chục niên sau khi anh Ba đang nằm trong lồng kiếng, có lẽ nằm hoài một chỗ quá ể mình, nên trời xui đất khiến, có một ông giáo ở tận bên xứ Tàu, viết sách nói rằng anh Ba lộng kiếng không phải là anh Ba liệng cống, cũng không phải là anh Ba phụ bếp thuở xưa, mà kẻ nằm chềnh ềnh đó là một anh Ba Tàu, giả làm anh Ba phụ bếp.

Theo ông giáo Tàu, anh Ba phụ bếp bị đứt gánh nửa chừng xuân. Mới hơn bốn chục cái xuân xanh, anh Ba phụ bếp vì thổi lò nhiều quá, bị nám phổi, về chầu Diêm vương khi còn ở khách sạn không sao của người Anh ở Hướng Kỏn. Bọn cướp quốc tế tiếc công đã xây dựng một tay tình báo có hạng, nên chơi trò trồng người, cho một anh Ba Tàu thế vào. Số phận éo le đã diễn ra hai lần trồng người trong gia đình anh Ba. Lần trước là trồng cha. Lần nầy là trồng con.

Từ đó, ngôi sao anh Ba, nay có tên mới là Ba Tàu hay Ba Giả Cầy lên vùn vụt, không khác gì khi Dị Nhân gặp Lã Bất Vi. Nhờ vậy anh Ba Giả Cầy chớp được quyền lực, sống đời đế vương. Cái trò trồng người của tụi Tàu cộng bắt đầu ép-phê. Anh Ba Gỉ Cầy, vì gốc Tàu nên ra lệnh cho Phạm thừa tướng ký giấy nhượng đảo cho Tàu cộng. Còn anh Ba Giả Cầy thì phây phây hưởng thụ, sát phạt tùy thích, hưởng cho phỉ chí đời con cầy lên giả làm người. Cho đến khi chết, anh Ba Giả Cầy còn được lộng kiếng.

Chuyện anh Ba thật, anh Ba giả hay anh Ba Giả Cầy, thật là khó biết đâu mà mò. Mấy ông nhà báo khắp thế giới kháo với nhau rằng đám đệ tử anh Ba ở thôn Ba Đình chắc chắn sẽ trả lời chuyện nầy, sẽ phản pháo ông giáo Tàu. Tuy nhiên, thực tế còn khuya đám để tử của anh Ba mới trả lời trả vốn, vì một lẽ đơn giản là từ lâu chúng ngậm miệng ăn tiền. Ai than, ai thở, ai quở, ai nguyền rủa, ai xỉ vả gì thì chúng cứ ngậm miệng ăn tiền là thượng sách, khỏe re như bò kéo xe. Dại gì mà phải thanh minh thanh nga cho lòi thêm cái đuôi cáo. Cứ bình chân như vại, câm miệng như hến là xong ngay. Người (dân Việt) la mặc người, đàn chó (cộng) cứ chạy.

Nghĩ cho cùng, có tranh luận cãi vả cũng chẳng đi đến đâu. Chắc chắn ông giáo Tàu bảo rằng ông ta nói đúng, vì ông ta có giấy tờ khai tử của anh Ba đầy đủ. Chắc chắn đám đệ tử của anh Ba ở Ba Đình cũng bảo anh Ba nằm trong đó đúng là anh Ba thật. Bởi vì nếu anh Ba đó mà là giả, thì không lẽ chế độ của chúng là đồ giả sao? đồ hàng mả hay sao? Giá nào chúng cũng phải bảo vệ cái ghế của chúng. Ai dại gì mà thưa ông tôi ở bụi nầy? Vì vậy, sư nói sư phải, vãi nói vãi hay. Hai bên cãi nhau tới khuya cũng sẽ bất phân thắng bại.

Trong khi đó, bàn dân thiên hạ có dịp lời ra tiếng vào, vui như ngày Tết. Lời bàn Mao Tôn Cương cho dzui cửa dzui nhà. Trước hết, phe họ hàng đệ tử của anh Ba sẽ cho rằng anh Ba nầy là anh Ba thật vì vào năm 1945, khi ráng sức hùng hồn đọc bản tuyên ngôn do cái anh trùm tình báo cao bồi Mẽo soạn, anh Ba đọc đúng giọng Nghệ của ông thầy giáo hào hoa phong nhĩ là cụ tổ thiệt của nhà anh.

Chứng cớ của các ông về phe với thầy giáo Tàu thì nhiều lắm. Người ta nói rằng anh Ba Giả Cầy nầy quê cha đất tổ ở bên Tàu nên chẳng thèm về Nghệ An thăm bà con. Sau khi thâu tóm được Bắc bộ phủ, anh Ba Giả Cầy trong mười mấy năm ngự trị ngoài Bắc chỉ áo gấm về làng có một lần. Ai cũng ưa áo gấm về làng, thăm ngôi nhà xưa, lũy tre cũ, dòng sông kỷ niệm…, nhưng anh Ba Giả Cầy thì chẳng thích về Nghệ An tý nào, vì anh Ba Giả Cầy đâu có xuất thân từ xứ Nghệ mà thích. Y xuất thân từ bên Tàu cơ mà.

Chẳng những không thích về Nghệ An, mà anh Ba Già Cầy cũng không thích gặp những người ở Nghệ An như ông Cả Khơm và bà Bạch Liên. Năm 1946, sau 30 năm xa cách, anh Cả Khơm ra Hà Nội thăm em, nhưng anh Ba Giả Cầy gởi anh Cả ở nhà một người khác, rồi tối đến gặp nhau một chút, và ai đi đường nấy, bái bai cho đến chết cũng không gặp lại nhau. Chỉ có thứ giả cầy mới không có tình bà con mà thôi. Còn bà chị Bạch Liên thì nhất định không cho gặp.

Dại gì gặp, vì gặp mặt ông bà nầy, rủi ông bà hỏi chuyện xưa, tích cũ, kỷ niệm trong gia đình, mà ú ớ không biết đường trả lời, thì lòi đuôi cáo ra ngay. Tránh voi chả xấu mặt nào, thôi đường ai nầy đi.

Có hai câu chuyện thú vị khác về anh Ba Giả Cầy. Vì là người Tàu phù, nên anh Ba Giả Cầy thích lấy vợ Tàu, nhưng ông tể tướng Tàu Chu Ân Lai và chàng bí thư chứ không bí mưu mẹo là Lê Duẩn đều không chịu. Các tên nầy sợ bể mánh chăng? Sau đó, khi gần chết, anh Ba Giả Cầy yêu cầu mời một người Tàu hát bài ca Tàu cho anh Ba nghe. Nghe xong rồi đả quá, anh Ba mới phê và nhắm mắt được. Cóc chết ba năm quay đầu về đất tổ, huống gì là người. Anh Ba Tàu nghe nhạc Tàu là đúng quá.

Hà hà! Ai nói cũng có lý cả. Biết tin ai bây giờ? Có một điều chắc chắn là anh Ba chết đi đã mấy chục niên rồi, mà cái chế độ trong nước thật gian ác, không chịu chôn cất tử tế cúng kiếng đầy đủ, cho anh Ba về với cát bụi theo nghi thức cổ truyền Việt Nam. Chúng cứ hành hạ xác anh Ba ở giữa chợ đông, để ông đi qua chửi một tiếng, bà đi lại rủa một câu. Làm sao siêu thoát nổi trời ơi!

Rồi người ta đem ba đời dòng họ nhà anh Ba ra ngâm cứu hoài. Khi ngâm cứu, người trước kẻ sau, đá lên đá xuống bầm dập nhiều lần như cái anh chàng Tần Cối thuở xa xưa. Nghĩ cho cùng, cuộc đời anh Ba thật hoặc anh Ba giả đã lưu manh gian ác rồi, mà cái đám lâu la hạ bộ của anh Ba ở thôn Ba Đình càng lưu manh gian ác gấp trăm lần, hành hạ và bóc lột chủ của chúng đến tận xương tủy cho đến khi chết mà vẫn chưa tha mạng. Thôi xin các ngài tha cho anh Ba nhờ tý, dẹp quách cái xác thối đó đi, vừa làm phúc cho anh Ba phụ bếp, vừa khỏi ô nhiễm môi trường, vừa đỡ tốn tiền đóng thuế xương máu của nhân dân để nuôi báo cô cái xác đó.

Nói gì thì nói, cái kế trăm năm trồng người của Quản Trọng được con cháu ông ta áp dụng một cách tài tình. Chẳng những chúng trồng thường dân, mà trồng cả chủ tịch nước. Hay thật. Không khéo rồi đây, sau khi chứng minh rằng đường xe lửa Tàu đến đâu, đất Tàu cộng đến đó, thì chúng sẽ lý luận rằng anh Ba là người Tàu, thì chỗ anh Ba nằm cũng là đất Tàu luôn, nghĩa là Hà Nội sẽ trở thành Đông quan như dưới thời Minh thuộc. Dám lắm bà con ơi!

Mà nếu câu chuyện trồng người của ông giáo Tàu không đúng sự thật, thì việc ông giáo Tàu dựng ra câu chuyện anh Ba Giả Cầy, thì cũng vui, cũng tạo thêm cơ hội để bàn dân thiên hạ xào xáo, nguyền rủa anh Ba đang nằm trong thâm cung Ba Đình, và nguyền rủa luôn đám đệ tử bất lương của anh Ba, đang cúc cung phục vụ cho những tên Tàu Cộng ăn cướp ở Bắc Kinh. Thâm ơi thật là thâm! Đàng nào cũng thâm. Thâm như chuyện Tào Tháo với Khổng Minh thời Tam Quốc.

(Toronto, Canada)

Về hai câu thơ thường bị nhầm là của HCM

Phạm Xuân Cần (Tạp hoá Faccuxa) – Có khá nhiều bài thơ, câu nói thường được cho là của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Không chỉ được trích dẫn trong khi nói, chúng còn được trích dẫn trong các bài viết, thậm chỉ là các công trình nghiên cứu hoặc các bài luận văn chính trị xã hội quan trọng. Không chỉ người dân hoăc cán bộ bình thường có sự nhầm lẫn, mà rất nhiều lãnh đạo từ cơ sở đến Trung ương cũng mắc phải lỗi này. Trong rất nhiều sự nhầm lẫn tai hại đó phổ biến nhất là trường hợp câu thơ “Không có việc gì khó…” và câu “Dễ trăm lần không dân cũng chịu…”

Câu thơ “Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên” thường được biết đến với tên gọi “Khuyên Thanh niên”. Từ hàng chục năm nay khi được in, được nói đến người ta nghiễm nhiên cho đó là thơ của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, hầu như không có ai suy nghĩ gì khác. Ở công trình Thủy điện Hòa Bình dưới bức tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đỉnh đồi cũng khắc trang trọng bài thơ này với tên tác giả Hồ Chí Minh. Khoảng năm 1975, 1976 bản thân tôi khi học tiếng Trung Quốc thậm chí còn cố gắng dịch bài thơ này ra… chữ Hán để đăng báo… tường! (Đầu đề tôi dịch là “Khuyến Thanh niên”, câu đầu dịch là “Thế gian một hữu nan chi sự”. Thầy giáo dạy Trung văn đọc xong chỉ cười). Rất may sau đó đọc cuốn “Chúng ta có Bác Hồ” của nhà xuất bản Lao Động, tôi bắt gặp hồi ký của một cựu cán bộ Đoàn. Trong đó ông này kể lại hồi ở chiến khu Việt Bắc, ông có gặp xin Bác Hồ một bài thơ để tuyên truyền giáo dục thanh niên. Bác Hồ nói đại ý thơ thì Bác chưa có, nhưng có mấy câu này người xưa hay dùng để dạy thanh niên hay lắm. Sau đó Bác viết lại mấy câu trên cho người cán bộ nọ. Và, có lẽ từ đó mấy câu thơ này đã trở thành bài “Khuyên thanh niên” bất hủ.

Thế nhưng, phải cách đây mười mấy năm gì đó tôi mới biết cụ thể xuất xứ của bài thơ này. Té ra đó là một câu trích trong sách giáo khoa chữ Hán xưa “Ấu học ngũ ngôn thi”. Nhà thơ Ngô Văn Phú đã giới thiệu và dịch đăng một chương cuốn sách này trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Trong đó nguyên văn chữ Hán của bốn câu thơ này như sau:“Tạc sơn thông đại hải/ Luyện thạch bổ thanh thiên/ Thế thượng vô nan sự/ Nhân tâm tự bất kiên” (鑿 山 通 大 海/ 鍊 石 補 青 天/ 世 上 無 難 事/人 心自 不 堅). Như vậy, có thể nói Chủ Tịch Hồ Chí Minh không phải là tác giả của những câu thơ này. Tuy nhiên, chính Bác là người dịch ra tiếng Việt những câu thơ hàm súc, giàu ý nghĩa đó. Đó là một bản dịch tuyệt vời!

Trường hợp hai câu thơ: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong” lại hoàn toàn khác. Rất nhiều cán bộ, giáo viên hễ cứ nói đến vai trò quần chúng nhân dân là y như rằng không thể thiếu câu này, với lời dạo: “Bác Hồ đã dạy…”. Thế nhưng, thực chất đây là hai câu trong một bài ca dao khá nổi tiếng thời chống Pháp của…nhà thơ Thanh TịnhBài này được nhà thơ Thanh Tịnh sáng tác năm 1948 trong cuộc vận động nhân dân đóng thuế nông nghiệp. 

Đó là bài Dân no thì lính cũng no. Nguyên văn:

“Trông lên thì thấy đầy sao
Nhìn quanh thì thấy đồng bào mến thân
Dễ trăm lần không dân cũng chịu
Khó vạn lần dân liệu cũng xong
Thóc thuế mà có dân đong

Trăm công nghìn việc ngược dòng cũng xuôi
Đêm nằm nghĩ lại mà coi
Liệu còn thằng giặc đứng ngồi sao yên ?
Nhân dân là bậc mẹ hiền
Cơm gạo áo tiền thì mẹ phải lo
Dân no thì lính cũng no
Dân reo lập nghiệp, lính hò lập công…”

Thế nhưng nguyên do gì mà những câu thơ trên bỗng nhiên trở thành thơ Bác Hồ? Tôi xin đưa ra một giả thuyết. Tôi đã đọc một bài nói chuyện của Chủ Tịch Hồ Chí Minh với Công an Hà Nội những năm chống Mỹ. Khi nói về việc Công an phải dựa vào nhân dân, Bác có nói đại ý: Đồng bào Quảng Bình nói rất đúng: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong”. Được biết hồi đó hai câu này được viết thành khẩu hiệu và rất phổ biến ở Quảng Bình. Tôi không biết có phải đó là lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc đến hai câu thơ này không. Nhưng, có thể khi được Người nhắc đến thì những câu thơ đó trở nên nổi tiếng và vì nhiều lý do khác nhau người ta nghĩ đó là thơ Bác Hồ mà tuyệt nhiên không có sự nghi ngại nào. Mặt khác cũng phải thừa nhận hai câu thơ dung dị mà hàm chứa tư tưởng rất lớn của nhà thơ Thanh Tịnh cũng khá gần gũi với cách viết, cách nói của Chủ Tịch Hồ Chí Minh. Phải chăng đó cũng là một lý do tạo nên sự ngộ nhận này?

Hiểu đúng để sử dụng đúng những bài thơ, câu nói mà sinh thời Chủ Tịch Hồ Chí Minh thường nhắc đến là điều rất cần thiết. Mọi sự ngộ nhận là không nên và rất dễ bị xuyên tạc.

Khi viết lại những chuyện này tôi chưa có điều kiện tra cứu lại những tài liệu mà mình đã đọc, nhưng tin chắc về cốt lõi là như vậy. Rất mong các bạn cùng trao đổi thêm.

Bài liên quan: Suy nghĩ từ một bài thơ của Bác Hồ

Advertisements

Leave a comment

Filed under Uncategorized

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s