Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa nói gì về đảng phái?

Trịnh Hữu Long   (LKTC) – Xét riêng về chế định đảng chính trị, Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1967 tương phản toàn diện với Hiến pháp Việt Nam hiện hành.

LKTCfile-image002
Một phiên họp của Hạ viện Việt Nam Cộng hòa
thời Đệ nhị Cộng hòa (1967 – 1975). Ảnh: Chưa rõ nguồn

Ngày 26/10/1955, Tổng thống Ngô Đình Diệm long trọng tuyên bố sự ra đời của quốc gia Việt Nam Cộng hòa ở phía Nam của vĩ tuyến 17, mở ra trang sử 20 năm ngắn ngủi của quốc gia này với những thành tựu lập hiến không thể nói là nhỏ.

Đúng một năm sau, cũng chính ông Ngô Đình Diệm ký lệnh ban bố bản Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa sau khi nhận toàn văn văn kiện này từ Quốc hội Lập hiến, mở ra nền Đệ nhất Cộng hòa. Mặc dù tiệm cận nhiều giá trị dân chủ và tự do, Hiến pháp 1956 vẫn bị coi là đã tạo ra một chế độ mà Giáo sư Nguyễn Văn Bông của Học viện Quốc gia Hành Chánh (trước 1975) gọi là “chế độ quyền uy, khung cảnh của một sự chớm nở độc tài cá nhân trên thực tế”. Quả thực, ông Diệm đã thẳng tay đàn áp các đảng phái chính trị đối lập, tập trung quyền lực tối cao vào tay mình, rồi bị quân đội giết chết trong cuộc đảo chính ngày 1/11/1963, mở ra thời kỳ khủng hoảng chính trị kéo dài với các chính phủ được lập lên và sụp xuống liên tục.

Bối cảnh đó đưa đẩy Việt Nam Cộng hòa đến những ý tưởng lập hiến mới để thiết lập sự ổn định của nền chính trị quốc gia. Một quốc hội lập hiến được bầu ra vào tháng 9/1966, thông qua bản Hiến pháp mới ngày 18/3/1967 và chính thức ban bố văn kiện này ngày 1/4 cùng năm, mở ra nền Đệ nhị Cộng hòa và cũng là nền cộng hòa cuối cùng của miền Nam Việt Nam.

Thừa nhận thể chế đa đảng

Không có điều khoản nào trong Hiến pháp năm 1956 nhắc tới đảng chính trị, nhưng Hiến pháp 1967 thì dành riêng một chương với 4 điều quy định về “chánh đảng và đối lập”.

Chương VII: Chánh đảng và Đối lập

Điều 99. 1.- Quốc gia công nhận chánh đảng giữ vai trò thiết yếu trong chế độ dân chủ.

2.- Chánh đảng được tự do thành lập và hoạt động theo các thể thức và điều kiện luật định.

Điều 100.- Quốc gia khuyến khích việc tiến tới chế độ lưỡng đảng.

Điều 101.- Quốc gia công nhận sự định chế hóa đối lập chính trị.

Điều 102.- Một đạo luật sẽ ấn định quy chế chánh đảng và đối lập chính trị.

Tổng thống Ngô Đình Diệm (1901 – 1963). Ảnh: Chưa rõ nguồn

Như vậy, Hiến pháp 1967 thừa nhận vai trò quan trọng của các đảng chính trị và đảm bảo cho công dân của họ có quyền được thành lập các đảng chính trị riêng của mình mà không thể bị coi là chống chính quyền. Sự thừa nhận này rất quan trọng, bởi nó loại bỏ hoàn toàn khả năng bị đàn áp hoặc bỏ tù đối với những ai muốn hoạt động đảng phái, điều mà nhiều người dưới thời Ngô Đình Diệm đã phải gánh chịu như đảng viên của các đảng Xã hội, Việt Nam Phục quốc hội, Đại Việt và Việt Nam Quốc dân đảng.

Trên thực tế, chính trường miền Nam sau thời kỳ Ngô Đình Diệm và thời kỳ quân quản (1963-1967) ghi dấu ấn đậm nét của nhiều đảng chính trị, trong đó có đảng Dân chủ của Nguyễn Văn Thiệu, đảng Việt Nam Nhân xã cách mạng của Trương Công Cừu và đảng Công Nông Việt Nam của Trần Quốc Bửu. Bên cạnh đó, còn có đảng Nhân dân Cách mạng miền Nam (năm 1975 sáp nhập vào đảng Lao động Việt Nam, tức đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay) và đảng Xã hội Cấp tiến miền Nam (năm 1975 sáp nhập vào đảng Xã hội Việt Nam, một tổ chức do đảng Cộng sản Việt Nam chi phối).

Sự thừa nhận vai trò của đảng chính trị trong Hiến pháp 1967 hoàn toàn ngược lại với các bản Hiến pháp của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1980, 1992 và 2013, vốn quy định đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội, thậm chí là “lực lượng duy nhất” như quy định tại Hiến pháp 1980. Các bản hiến pháp này tuy không triệt tiêu khả năng thành lập các đảng chính trị, nhưng việc thực thi chúng trên thực tế lại triệt tiêu hoàn toàn khả năng đó.

Khuyến khích chế độ lưỡng đảng

Ngoài ra, Điều 100 của Hiến pháp 1967 “khuyến khích việc tiến tới chế độ lưỡng đảng”. Điều này có lẽ xuất phát từ hai nỗi ám ảnh chính, đồng thời cũng là hai kinh nghiệm xương máu của nền chính trị Sài Gòn thời kỳ đó: sự tái lập một tổng thống độc tài như Ngô Đình Diệm, và những chính phủ được lập ra rồi sụp xuống liên tục sau Diệm. Cả hai khả năng này đều là điểm yếu của hệ thống chính trị đa đảng.

Chế độ đa đảng kết hợp với mô hình nhà nước đại nghị tiềm ẩn khả năng tạo ra tình trạng hỗn loạn và bất ổn định ở quốc hội khi không có phe nào nắm đa số. Chính phủ chỉ được thành lập khi có nhiều đảng liên hiệp với nhau để tạo lập một liên minh chiếm đa số, và chính phủ vì thế cũng sẽ được dựng lên và sụp xuống liên tục do độ bền của những liên minh đó là không cao.

Chế độ đa đảng kết hợp với mô hình nhà nước tổng thống chế, với sự hỗn loạn ở quốc hội như kể trên, sẽ làm nổi bật hình ảnh tổng thống, vì chỉ có ông ta là người duy nhất khi đó do đa số người dân bầu ra, chứ không có ai nắm được đa số ở quốc hội cả. Đây là một khả năng đáng kể dẫn đến độc tài cá nhân.

Chế độ lưỡng đảng đặt trong mô hình tổng thống chế hoặc mô hình bán tổng thống của Hiến pháp 1967 được kỳ vọng sẽ giải quyết được cả hai nỗi ám ảnh đó. Một mặt, nó giúp quốc hội mạnh hơn và ổn định hơn, nhờ có phe đa số đại diện cho tiếng nói của đa số cử tri. Nhờ vậy, quốc hội kiểm soát được vị tổng thống dân cử, ngăn ngừa ông ta trở thành nhà độc tài. Mặt khác, vị tổng thống dân cử cũng duy trì được chính phủ của mình trong ít nhất một nhiệm kỳ mà không phải lo sợ bị quốc hội giải tán.

Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu thành lập Đảng Dân chủ năm 1967 và giữ cương vị tổng thống từ 1967 cho đến cuối tháng 4/1975, khi nền Đệ nhị Cộng hòa chuẩn bị sụp đổ trước quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ảnh: Chưa rõ nguồn

Cũng cần lưu ý rằng, chế độ lưỡng đảng không có nghĩa là chỉ có hai đảng được phép hoạt động. Đây là hình thái đặc biệt của chế độ đa đảng, nhưng có hai đảng nổi trội hơn các đảng khác và thay nhau chi phối được chính trường.

Dĩ nhiên, không phải muốn là có ngay chế độ lưỡng đảng. Nó cần lịch sử sàng lọc, và do đó, bản Hiến pháp năm 1967 không thể làm gì hơn là “khuyến khích” sự hình thành chế độ đó.

Quân đội phi đảng phái

Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1956 không quy định gì về mối quan hệ giữa quân đội và đảng phái, nhưng bản Hiến pháp 1967 thì nói rất rõ tại khoản 2, Điều 23:  “ Quân nhân tại ngũ không được sinh hoạt đảng phái ”.


Một đơn vị lính nhảy dù của Quân lực Việt Nam Cộng hòa. Ảnh: Chưa rõ nguồn.

Quy định này, một mặt xuất phát từ những học thuyết tách rời quân đội khỏi chính trị, mặt khác có căn nguyên từ một nỗi ám ảnh chính trị khác ở Sài Gòn: chế độ quân quản sau Diệm. Đây là thời kỳ kéo dài 4 năm, từ 1963 đến 1967, bắt đầu từ cuộc đảo chính quân sự lật đổ Ngô Đình Diệm ngày 1/11/1963. Trong 4 năm sau đó, lần lượt 5 chính phủ được các phe quân đội và dân sự dựng lên rồi đạp xuống liên tục với liên tiếp các cuộc đảo chính và chỉnh lý khác. Chỉ đến khi Nguyễn Văn Thiệu lên nắm giữ quân đội từ 1965 và thiết lập chính phủ dân sự do tướng Nguyễn Cao Kỳ làm Thủ tướng thì tình hình mới bắt đầu ổn định. Cả hai người này, sau khi Hiến pháp 1967 được thông qua, đã liên minh tranh cử vào vị trí Tổng thống và Phó Tổng thống, và thành công.

So sánh với các bản Hiến pháp của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam cho ta thấy sự khác biệt đáng kể về quan điểm lập hiến về quân đội. Ngoại trừ Hiến pháp năm 1946 của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không đề cập đến quân đội, các bản hiến pháp sau đó đều quy định quân đội phải “bảo vệ thành quả cách mạng” (Hiến pháp 1959, 1980, 1992) hay “tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, Nhân dân, với Đảng và Nhà nước, có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa, cùng toàn dân xây dựng đất nước và thực hiện nghĩa vụ quốc tế” như Hiến pháp 2013.

Điều 4: “Chống lại chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thức”

Mặc dù thừa nhận chế độ chính trị đa đảng và đối lập, bản Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1967 lại có một điều khoản gây tranh cãi, đó là Điều 4.

Nếu như Điều 4 của các bản Hiến pháp của Việt Nam thống nhất sau này, cũng gây rất nhiều tranh cãi, nổi tiếng với sự hiến định hóa quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội của đảng Cộng sản Việt Nam, thì Điều 4 của Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa 1967 lại chống chủ nghĩa cộng sản đến cùng.

Điều 4.- 1.– Việt Nam Cộng hòa chống lại chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thức.

2.– Mọi hành vi nhằm mục đích tuyên truyền hay thực hiện chủ nghĩa cộng sản đều bị cấm chỉ.

Không phải đến năm 1967, Hiến pháp của Việt Nam Cộng hòa mới hiến định hóa điều cấm này. Điều 7 của Hiến pháp 1956 cũng ghi rõ:

Những hành vi có mục đích phổ biến hoặc thực hiện một cách trực tiếp hay gián tiếp chủ nghĩa cộng sản dưới mọi hình thức đều trái với các nguyên tắc ghi trong Hiến pháp.

Điều này có nghĩa là, chế độ đa đảng ở miền Nam Việt Nam không có chỗ cho bất kỳ đảng phái nào cổ súy cho chủ nghĩa cộng sản. Nói cách khác, không thể có một đảng cộng sản ở phía nam vĩ tuyến 17.

Cuộc đấu cờ ở khu vực vĩ tuyến 17. Tình trạng chiến tranh với miền Bắc theo chủ nghĩa cộng sản là nguyên nhân chính dẫn đến quy định tại Điều 4 Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1967. Ảnh: Tạp chí Life.

Rõ ràng, sự tồn tại của quy định này là rất dễ hiểu trong bối cảnh đối đầu một mất một còn giữa chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản trên thế giới trong thời kỳ đó, mà Việt Nam chính là chiến trường đẫm máu nhất. Nhưng mặt khác, đây cũng là quy định hạn chế tự do ở một chế độ lấy các giá trị tự do, dân chủ làm căn bản như Việt Nam Cộng hòa.

So sánh với các nước khác trong cùng thời kỳ, có thể thấy các đảng cộng sản ở Mỹ và Tây Âu vẫn được hoạt động. Đảng cộng sản Hoa Kỳ thậm chí còn nắm vai trò lớn trong phong trào đòi quyền dân sự thập niên 50 và 60 của thế kỷ XX, đồng thời đã từng nắm giữ các vị trí khác nhau trong các cơ quan lập pháp của nước này. Tuy dần dần thoái trào ở nửa sau thế kỷ XX, các đảng cộng sản vẫn có thể được thành lập và hoạt động hợp hiến, hợp pháp tại những quốc gia được cho là thù địch với chủ nghĩa cộng sản này.

Trở lại với miền Nam Việt Nam thời Đệ nhị Cộng hòa, mặc dù Điều 4 của Hiến pháp cấm đoán tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản, nhưng nó lại tỏ ra kém hiệu lực trên thực tế. Sài Gòn trước năm 1975 vẫn có những chuyên gia về chủ nghĩa cộng sản. Một trong những đại diện tiêu biểu là học giả Nguyễn Ngọc Lan với tạp chí Đối Diện, một tạp chí được cho là “thân Cộng”. Bên cạnh đó, các tập bài giảng về chủ nghĩa Mác – Lê-nin của Giáo sư Nguyễn Văn Trung, Đại học Văn khoa Sài Gòn, vẫn được in ấn và tự do lưu hành, các lớp học về chủ nghĩa Mác – Lê-nin của ông vẫn được tổ chức bình thường như mọi lớp học khác.

Điều đặc biệt nữa là trong nhiều luận văn cao học của Học viện Quốc gia Hành Chánh của miền Nam trước 1975, hiện còn đang lưu trữ trong thư viện của học viện này ở TP. Hồ Chí Minh, khi bàn đến vấn đề hòa giải dân tộc và thống nhất đất nước, các tác giả vẫn có thể đề xuất giải pháp “bỏ Điều 4” ra khỏi Hiến pháp năm 1967 và được bảo vệ quan điểm đó trước hội đồng thẩm định. Nói cách khác, khi Điều 4 của Hiến pháp 1967 bị lấn át bởi các quyền tự do ngôn luận, tự do học thuật, tự do báo chí và quyền tự trị của các trường đại học, chính quyền Việt Nam Cộng hòa có xu hướng làm ngơ và ngầm thừa nhận các luồng quan điểm về chủ nghĩa cộng sản như một phần của xã hội đa nguyên.

Tài liệu tham khảo: 

Hiến pháp Việt Nam Cộng hòa năm 1967, đăng trong tác phẩm  Luật Hiến pháp và Chính trị học, Nguyễn Văn Bông, Sài Gòn, 1967 (in lần thứ nhất), 1969 (in lần thứ hai), 2013 (bản điện tử do pro&contra thực hiện).

Advertisements

Leave a comment

Filed under Uncategorized

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s