Cùng nhân cùng quả – với cái ác duyên

Nguyễn-Xuân Nghĩa(NV)Vì sao kinh tế trung quốc bị khủng hoảng?

eds_alfl_51030270

Bây giờ thì mọi người đành nhận rằng kinh tế Trung Quốc đang suy trầm chứ hết đà tăng trưởng ngoạn mục như trước. Nếu có khác biệt về dự đoán thì một số tin rằng kinh tế xứ này sẽ “hạ cánh nhẹ nhàng.”

Một số khác thì nói đến kịch bản “hạ cánh nặng nề” hay là khủng hoảng. Người viết này thuộc trường phái “bi-lạc quan,” bi quan về kinh tế mà… lạc quan về chính trị, nên từ lâu đã dự báo khủng hoảng kinh tế sẽ dẫn tới khủng hoảng chính trị!

***

Mùa Thu năm 2009, khi mục “Kinh tế cũng là chính trị” được mở ra trên cột báo này, bài ra mắt vào đầu tháng 10 với tựa đề “Trung Quốc sắt thép – lượng kinh tế và phẩm chính trị” có giải thích chuyện ấy, với chủ đề tập trung vào ngành thép và nạn thép ế của Trung Quốc. Ngày nay, thế giới đang la trời về chuyện Bắc Kinh bán tháo thép ế với giá quá hạ.

Tại sao lại sản xuất thép dư thừa? Hoặc tại sao sau đó, từ 2011 đến 2013, trong có bốn năm Trung Quốc lại sử dụng một lượng xi măng đến 6,6 tỷ tấn?

Xin có vài chữ về cách đếm đã: một tấn là ngàn cân, ngàn tấn hay triệu ký thì gọi là “kiloton,” một triệu tấn là “megaton,” và một tỷ tấn là “gigaton,” hay 1012 ký lô. Nhiều ít thế nào thì dễ nhớ lắm: gấp rưỡi tổng số xi măng Hoa Kỳ tiêu thụ suốt thế kỷ 20 (4,5 gigatons). Mà nước Mỹ quả là không nhỏ!

Trước số lượng khó mường tượng như vậy, nhà báo nói đến “Vạn Vạn Lý Trường Thành” với sự khâm phục. Giới kinh tế thì hỏi là để làm gì và do ai tài trợ? Đấy cũng là một nguyên nhân của khủng hoảng sắp tới.

Xin nói về nhân quả mà bảo đảm là không lạc qua giáo lý nhà Phật: Những nguyên nhân nhất định phải dẫn tới hậu quả nhất định!

Thật ra, đấy là chuyện dễ hiểu vì đã từng thấy bên Nhật khi cái quả là nạn khủng hoảng kinh tế từ năm 1991 – mà ta ít chú ý vì tập trung vào vụ khủng hoảng chính trị tại liên bang Xô Viết. Gần đây hơn, ta thấy cái nhân tại Hoa Kỳ và Âu Châu đã dẫn tới cái quả là khủng hoảng tài chánh năm 2008.

Cái nhân là mặc sức đi vay để nâng sản lượng bất chấp sự kiện là sản lượng gia tăng vẫn không đủ trả cho phí tổn đi vay, làm hệ thống tài trợ sụp đổ dưới một núi nợ xấu, khó đòi và sẽ mất. Đó là cái quả.

Chuyện nhân quả của Trung Quốc lại có cái duyên hơi ác là khủng hoảng tài chánh tại Hoa Kỳ đã gây ra tổng suy trầm toàn cầu khiến lãnh đạo Bắc Kinh càng chất thêm núi nợ – mà cái gì nghiêng quá thì sẽ lật. Hạ cánh tan tành là như vậy.

Bây giờ, xin đi vào thực tế của nhân quả Trung Quốc với vài con số dễ nhớ.

eds_alfl_51030270
* Nhảy cao kỷ lục – rồi rớt xuống bục *

Trong nhiều thập niên, Trung Quốc lấy đầu tư làm lực đẩy cho tăng trưởng.

Thật ra nó chẳng khác gì các công trình xây dựng Vạn Lý Trường Thành ngày xưa: giải quyết được nạn thất nghiệp! Còn chuyện lao động lầm than, làm mà chẳng hưởng hay ký thác tiết kiệm vào ngân hàng của nhà nước thì lãnh phân lời quá thấp, v.v… chuyện ấy khỏi bàn vì là xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Hoa.

Bắc Kinh gia tăng sản xuất như kẻ phóng tay áo xô vì còn có thể xuất cảng ra ngoài. Thành tích biểu kiến làm thiên hạ hãi sợ là trong bảy năm đầu của thế kỷ 20 thì tỷ trọng xuất cảng trong tổng sản lượng đã tăng gần gấp đôi, nôm na là tăng 10% một năm.

Rồi nhờ thế độc quyền về hối đoái, Bắc Kinh đem về một kho dự trữ ngoại tệ khổng lồ mà chẳng cho dân hưởng. Mặt trái của chiến lược đó là tiêu thụ nội địa bị kiềm hãm, có một tỷ trọng quá thấp so với tổng sản lượngmà còn giảm dần, nay chỉ ở khoảng 36-37% so với con số tương đối quân bình là 50%.

Hậu quả của chiến lược xây “Trường thành kinh tế” là cả nước thi đua sản xuất thừa – và dù có thừa và ế mà vẫn được bút ghi là “sản xuất” làm thế giới vô tâm cứ tưởng là thật.

Như nhiều nhà kinh tế duy ý chí nên nhìn sự đời bằng một mắt, lãnh đạo Trung Quốc chỉ ngó vào phần “tích sản” là lượng tài sản mà họ toàn quyền vận trù chứ khỏi quan tâm đến phần “tiêu sản” là từ đâu mà có? Vay của ai và trả với giá nào là những câu hỏi thừa, những câu hỏi đã ám ảnh Nhật Bản, Hoa Kỳ và Âu Châu trong các năm qua.

Khi thế giới bị Tổng suy trầm (2008-2009) thì Trung Quốc còn lao về phía trước. Và đi vay, hay bơm tín dụng, để tiếp tục sản xuất, rồi bắt kịp và qua mặt Nhật Bản vào năm 2010. Qua mặt cũng có nghĩa là mắc nợ nhiều hơn nước Nhật. Trong sáu năm qua, tổng số nợ ngoài khu vực công quyền tại Trung Quốc tăng gấp đôi và nay đã cao bằng tổng sản lượngnội địa. Nếu kể ra các loại nợ công và tư thì có thể lên tới 260 hay 280% Tổng sản lượng.

Nói trừu tượng vậy vẫn chưa rõ: nợ kinh doanh của Trung Quốc nay đã cao bằng Hoa Kỳ, dù chỉ có sản lượng kinh tế cỡ phân nửa của Mỹ.

Vì ngần ấy nguyên nhân, kinh tế Trung Quốc đang dẫn đầu thế giới với hai thành tích có ý nghĩa lịch sử là hàng ế và nợ xấu. Giấy báo vốn đắt tiền (!) bài này xin miễn trình bày nhiều thống kê và số liệu u ám về tình trạng ế ẩm nhà cửa, đường sá hay vật liệu xây dựng. Chỉ cần nhắc người Hà Nội rằng thế giới càng nói đến “khủng hoảng của tư bản chủ nghĩa” thì điều ấy càng có nghĩa là Trung Quốc khó tìm ra thị trường xuất cảng. Nên càng chóng chết!

***

Lãnh đạo Bắc Kinh có hiểu ra điều ấy, nhưng khó quản lý việc hạ cánh cho nhẹ nhàng, với đà tăng trưởng thấp hơn. Lý do thứ nhất là kinh tế chỉ tăng trưởng là nhờ sản xuất của tư doanh, nay đang chết ngộp dưới núi nợ kỷ lục. Nếu tiếp tục chiến lược nghiến răng đạp xe cho cỗ xe khỏi đổ bằng cách bơm thêm tín dụng thì chỉ chất thêm nợ. Lý do thứ hai là nghiến răng làm một cuộc giải phẫu tài chánh, là kiềm hãm và giảm bớt gánh nợ thì cỗ xe đạp sẽ dừng chân tại chỗ!

Tức là đổ…

Vì giữ độc quyền chính trị nên thản nhiên… ngồi xổm lên thị trường, lãnh đạo Bắc Kinh vẫn có thể đóng cửa với bên ngoài và xả tiền từ công khố vào hệ thống tài trợ tín dụng, nôm na là tung tiền bù vốn và đắp nợ trong vài năm để cầm hơi. Nhưng vẫn chẳng thể nâng giá gia cư, địa ốc và thương phẩm, vốn dĩ bị hiệu ứng từ thị trường bên ngoài. Mà các mặt hàng đó lại là tài sản thế chấp khi đi vay, là cái lõi của kén nợ chồng chất. Khi lõi bị mục ở trong thì ta chỉ còn có kén nợ thối.

Giải pháp sau cùng là từ bỏ chiến lược bóc lột kinh tế bằng cách chuyển lực đẩy từ đầu tư sang tiêu thụ, nội dung của việc cải cách đề ra từ hội nghị kỳ ba của Ban Chấp Hành Trung Ương Khóa 12 vào đầu năm 2013. Nôm na là cho dân chúng được hưởng và nhờ đó nâng mức cầu so với số cung ế ẩm.

Trở ngại kỹ thuật ở đây là phải nâng cao và mở rộng hệ thống tín dụng tiêu thụ, vốn còn thô sơ và chưa chi đã nghẽn vì nhiều hộ gia đình đã mắc nợ quá nhiều trong thực tế. Nợ đến mức nào thì chưa ai rõ vì chẳng ai khai thật.

Và trong giả thuyết nhà nước vẫn làm được việc chuyển hướng từ đầu tư qua tiêu thụ thì đà tăng trưởng không thể là 7% như chỉ tiêu vừa thông báo. Cũng chẳng là 5-6% như các dự đoán lạc quan. Mà có thể chỉ còn chừng 3-4% là nhiều, và trong nhiều năm liền! Khủng hoảng kinh tế là vậy.

Nhưng khác với Nhật Bản hay các nước dân chủ Âu-Mỹ, khủng hoảng kinh tế của một xứ độc tài tất nhiên dẫn tới động loạn xã hội. Và ở cuối đường hầm là khủng hoảng chính trị.

.

Advertisements

Leave a comment

Filed under Nguyễn-Xuân Nghĩa

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s