Dân chủ tự do bắt đầu từ đâu?

Nộ Thủy (Vấn Đề) – Không có một sự tự do nào là không trả giá và cũng không có một nền dân chủ nào là không hình thành từ đống đổ nát phi dân chủ. Vấn đề cần bàn ở đây là trả giá như thế nào cho tự do và đống đổ nát nào cho dân chủ xây lại nền móng, đổ nát ra sao?


Ảnh minh họa

Cái giá của tự do

Ở khía cạnh thứ nhất: Trả giá như thế nào cho tự do? Đây là một khái niệm hết sức mơ hồ bởi tự do tùy thuộc vào định nghĩa cá nhân. Người Công giáo có định nghĩa tự do của Công Giáo, người Phật Giáo có định nghĩa tự do của Phật Giáo và các tôn giáo khác lại có định nghĩa tự do riêng của họ. Các đảng phái cũng vậy, đảng Cộng sản có định nghĩa về tự do của họ và các đảng tiến bộ khác trên thế giới cũng có định nghĩa tự do riêng. Nhưng chung qui vẫn có một mẫu số chung mà toàn bộ loài người đều phải chấp nhận và hướng tới. Những ai đi ngược mẫu số chung này đều đi ngược với tự do.

Ví dụ, tự do của Phật Giáo và Công Giáo, định nghĩa có thể ngược nhau. Người Phật tử với tâm niệm chống sát sinh và chay tịnh, họ sẽ không bao giờ nhìn thấy tự do của một người đang hưởng khoái cảm tột đỉnh của tự do khi đang ngồi nhâm nhi một con tôm hùm trong nhà hàng. Bởi trong cái nhìn của họ, sát sanh con tôm hùm nghĩa là đang tự ràng buộc mình vào hệ thống nghiệp triền miên từ kiếp này qua kiếp khác. Nên chi người ngồi ăn con tôm hùm ngon lành và khoái chí kia là kẻ đang mất tự do. Ngược lại, một tín đồ Công giáo lại nhìn thấy các ni sư quá mất tự do khi họ phải tự khép mình vào hệ thống duyên, nghiệp, chay tịnh và các giới luật khắt khe. Xin lưu ý, tham chiếu của các ví dụ này là các người tu chân chính trong các tôn giáo chứ không phải các đạo sĩ, tu sĩ trá hình đầy rẫy trong xã hội Việt Nam hiện nay.

Các đảng phái chính trị cũng có những định nghĩa tự do đôi khi trái ngược nhau, ví dụ như người Cộng sản không phải vô căn cớ mà họ tồn tại và dám tuyên bố nước Việt Nam có tự do, có dân chủ, thậm chí “dân chủ gấp vạn lần các nước dân chủ”. Bởi họ nói điều này trong định nghĩa tự do và dân chủ của họ, với người Cộng sản, đứa con của thuyết duy vật biện chứng và đã biến chứng theo thời gian thành những cổ máy vật chất trong thế giới loài người, tự do của họ là ăn, mặc, ở. Nơi nào đói, họ sẽ mang các suất cứu trợ đến để cầm hơi, nơi nào cần lấy đất đai và tài nguyên để phát triển có lợi cho Cộng sản, họ sẵn sàng “đạp qua phương tiện để đi đến cứu cánh” bằng cách lấy không thương tiếc với luận điệu “chấp nhận mất thiểu số để được cho cả một dân tộc”.

Hình ảnh ông Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận 1, Sài Gòn đứng tranh cãi, thậm chí sỉ vã, mặt đằng đằng sát khí và điệu bộ hằng học nói với người phụ nữ đại diện khách sạn New Word rằng “Chị không thể đem quyền lợi của 16 triệu dân trong thành phố mà đổi lấy quyền lợi của chị!” là một minh chứng khá mới mẽ về cái gọi là mượn danh đa số (chẳng có liên quan gì) để đè áp thiểu số. Và họ vẫn có tự do, đó là tự do hưởng thụ trong những cuộc đập phá mang tính đàn áp như đã thấy. Lời ông Hải nói có thể là lời nói thật tự đáy lòng của ông ta, bởi ông chỉ hiểu biết chừng đó, dùng quyền lực để thực hiện sự hiểu biết của mình và cho dù có dùng đục gỗ đục hộp sọ của ông để nhét cái tự do thế giới vào thì tự do của ông vẫn quanh quẩn trong mấy thứ lý luận mà ông đã được học từ nhỏ, nó nuôi ông lớn lên và cho ông nhà cửa, xe cộ, sự giàu có sau này. Cái gì tạo ra niềm in, sự đam mê và hi vọng thăng tiến thì ấy là tự do. Tự do của người Cộng sản là vậy, bởi nó nằm trong hệ qui chiếu Cộng sản xã hội chủ nghĩa, không hơn không kém!

Ngược lại, định nghĩa về tự do của các nhà hoạt động đấu tranh cho tự do, dân chủ Việt Nam thì dựa trên tiêu chí tự do ngôn luận, tự do trí tuệ, tự do tâm hồn, tự do báo chí, tự do kinh tế, tự do viết lách, tự do hoạt động nghệ thuật, văn hóa và chính trị… Những tiêu chí của các nhà hoạt động đưa ra rất trùng khớp với tiêu chí tự do của thế giới tiến bộ. Nhưng lại có vẻ trái nghịch với tự do của thế giới Cộng sản. Điều này dẫn đến sự trả giá không đáng có cho cả Cộng sản và những nhà đấu tranh. Sự trả giá này đôi khi lại đi ngược với tiến trình đấu tranh tìm tự do, dân chủ cho con người.

Điều dễ nhìn thấy nhất của việc trả giá cho tự do của cả nhà đấu tranh và đảng Cộng sản Việt Nam là bạo lực. Bạo lực, sự phân tán và lòng người trở nên vô cảm đang ngày càng xâm chiếm, tạo thành sinh quyển chung trong xã hội Việt Nam hiện nay. Tôi xin khuôn giới sự mâu thuẫn cũng như các dẫn chứng này trong trường hợp rất phổ biến hiện nay với những người không kiềm chế được bạo lực, bạo lực hành động và bạo lực ngôn ngữ.

Ở phía nhà nước Cộng sản, họ đã mất tự do ngay trong hệ qui chiếu về tự do của họ, chính sách công an trị cũng như bạo lực cướp chính quyền thời gian mới hình thành và bạo lực giữ chính quyền, duy trì chính quyền hiện nay. Về phía các nhà đấu tranh cho tự do, dân chủ, không ít các nhà đấu tranh bị nhiễm thói bạo lực một cách thụ động và đến khi họ thực sự bạo lực, mọi hành vi của họ đều mang tính bạo lực mà họ không hề thấy điều đó, thậm chí bạo lực của họ được xem như một chuẩn mực đấu tranh và tạo ra hiệu ứng đám đông không nhỏ. Điều này hết sức nguy hiểm cho tương lai dân tộc. Vậy Cộng sản bạo lực kiểu gì và nhà đấu tranh bạo lực kiểu gì?

Cộng sản bạo lực từ hành động đến ngôn ngữ và họ đã khéo bẫy nhà đấu tranh vào chỗ bạo lực một cách tài tình để dẫn đến tình trạng mất niềm tin trong thế giới tiến bộ. Muốn hay không muốn thì cũng phải xác nhận một sự thật là hiếm các nhà đấu tranh dân chủ Việt Nam tạo được thiện cảm, niềm tin và sự ủng hộ từ cộng đồng quốc tế. Bằng chứng của điều này là hầu hết tài chính của các nhà đấu tranh dân chủ dựa vào nguồn chủ yếu từ cộng đồng người Việt hải ngoại chứ hiếm có nhà đấu tranh nào nhận được sự ủng hộ từ tài chính đến đường lối từ những tổ chức dân chủ, phi lợi nhuận quốc tế. Trong khi đó, nguồn thứ hai mới là nguồn mạnh và tạo đà được nhiều nhất.

Nhà nước Cộng sản đã tạo ra những đội dư luận viên ngay khi các tổ chức xã hội dân sự, các đảng phái ra đời và tinh thần đấu tranh của các nhà đấu tranh hưng phấn nhất. Trách nhiệm của các dư luận viên không phải là để định hướng thông tin và bút chiến, đấu khẩu với giới đấu tranh dân chủ, tự do. Mà trách nhiệm chính của họ là chọc tức, khích tướng để dẫn đến bạo lực ngôn ngữ. Họ luôn ném bạo lực ngôn ngữ về phía các nhà đấu tranh để chọc tức. Và họ đã thu được kết quả đáng sợ, có nhiều nhà dân chủ đã mất bình tĩnh và dùng đến ngôn ngữ phi dân chủ, phi tự do, hay còn gọi là bạo lực ngôn ngữ để thóa mạ, trả đũa các dư luận viên.

Và đỉnh điểm của vấn đề này là cả hai bên đều mất kiềm chế, dư luận viên thỏa sức khủng bố tinh thần nhà đấu tranh và nhà đấu tranh cũng không ngần ngại mắng sả, mạ lị các dư luận viên. Không thiếu các nhà đấu tranh gọi dư luận viên là ‘dư lợn viên’ và Hồ Chí Minh là ‘Hồ Chó Minh’. Nhìn bề ngoài thấy đơn giản nhưng thực ra, đây là cái bẫy, và các nhà đấu rtanh, thậm chí một số người đứng đầu đảng phải đã rơi vào cái bẫy của dư luận viên, đã đụng đến bạo lực ngôn ngữ và dùng nó như một phương tiện hằng ngày.

Thiếu hẳn một chiến lược

Là người từng tham gia các khóa học về xã hội dân sự và hoạt động dân chủ với Giáo sư Đoàn Viết Hoạt tại nước ngoài và qua skype, tương tác với không ít các nhà đấu tranh tự do, dân chủ tại Việt Nam, suy nghĩ và chiêm nghiệm về các cuộc cách mạng gần đây như cách mạng ruộng đất, cách mạng cá tại Việt Nam, tôi phải cay đắng nhận ra rằng hầu hết các hoạt động dân chủ, tự do tại Việt Nam không có cái lõi. Mà cái lõi ở đây chính là một chiến lược lâu dài. Hoạt động đấu tranh tại Việt Nam, nói một cách công tâm, nếu giữ hiện trạng đang có, thì đỉnh cao cũng chỉ ngang với cách mạng Dù tại Hồng Kông chứ khó tiến xa hơn nữa nếu không có sự thay đổi và chuẩn bị kĩ lưỡng. Vì sao?

Vì thiếu hẳn một chiến lược lâu dài; Vì sâu xa hơn nữa là thiếu hẳn tính cộng hưởng mà xuất phát điểm của nó lại là căn tính dân tộc, trong đó, xuất phát điểm tinh thần của các nhà hoạt động cũng có vấn đề nốt.

Tôi xin đơn cử một vài trường hợp mà không nêu tên thật, họ là nhà hoạt động đấu tranh cho tự do, dân chủ Việt Nam. Quá trình đấu tranh cùa họ có thể nói là rất năng nỗ, đầy nhiệt huyết, nhưng hiệu quả của nó thì lại rất kém, nếu không muốn nói là phản tác dụng, nó làm cho người ta sợ, thấy rằng đó là cuộc chơi nguy hiểm, không có lối thoát hoặc thậm chí liều mạng, chẳng đi đến đâu. Trường hợp một nhà đấu tranh luôn đụng chạm với nhà cầm quyền và hết bị ném mắm tôm vào người thì bị chặn đánh khắp mọi nơi có thể bởi công an chìm, dân phòng. Tôi từng vận động tài chính cho anh, tuy không nhiều nhưng cũng tạm đủ để anh vượt qua khó khăn ngắn hạn. Và điều mà tôi nhận thấy khi tiếp xúc, trò chuyện với anh là anh luôn than thở mình bị cô đơn, bị loại bỏ khỏi cộng đồng. Và đáng sợ hơn là anh luôn thấy mình sẽ là biểu tượng lớn nhất của nền dân chủ tương lai, sự ‘khổ hạnh’ của anh như một mẫu mực.

Đây là vấn đề hết sức nguy hiểm và tắt tị cho một nhà hoạt động đấu tranh dân chủ, tự do cho dân tộc. Bởi không nhất thiết phổ biến dân chủ là bạ đâu cũng phổ biến được đó, và ngồi đâu cũng nói về nó, ai không chịu nghe thì xếp người ta vào diện kém tiến bộ, ngu ngốc, ‘đầu óc bã đậu’… Cái hay của một người muốn thuyết phục hay truyền đạt tư tưởng của mình cho người khác là không cần nói nhiều, không cần nhắc đến mà người ta vẫn muốn nghe và muốn xoáy vào vấn đề. Và hình ảnh của một nhà đấu tranh cho tương lai tốt đẹp của Việt Nam phải là hình ảnh mà qua đó, toát ra từ nội tâm, người khác được nhìn thấy trí tuệ, sự quả cảm và bản lĩnh của nhà đấu tranh. Đừng bao giờ để cho người dân (vốn sống trong một xã hội chịu quá nhiều áp lực độc tài) lại thấy nhà đấu tranh thê thảm, bị hất hủi, bị xua đuổi, bị hành hung, hành hạ… Hình ảnh này khiến cho những người chưa từng hiểu về dân chủ, tự do sẽ thấy sợ dân chủ và tự do.

Và trên hết, đấu tranh dân chủ, tự do cho dân tộc phải xuất phát từ trí tuệ, lòng yêu thương dân tộc, nỗi trăn trở về sự mất mát của dân tộc trên tinh thần hết sức tỉnh táo, không thổi phồng sự việc và không dửng dưng với hiện tượng xã hội cho dù tình trạng tài chính có như thế nào chăng nữa. Bởi động cơ tài chính dễ làm cho nhà đấu tranh thổi phồng sự việc để tìm đồng cảm của các nhà tài trợ và dửng dưng với hiện tượng xã hội dễ dẫn đến bạo lực. Vì hiên tại, bạo lực xã hôi đang là quả bom sắp nổ tung, nếu không biết kiềm chế, nuôi dưỡng triết thuyết và tư tưởng cho chín muồi mà cứ năm ăn năm thua, thẳng mặt với nhà cầm quyền thì chỉ mang lại kết quả bạo lực nối tiếp bạo lực và hệ quả của nó là làm cho một xã hội vốn dĩ đậm đặc bạo lực càng đi đến chỗ bão hòa bạo lực.

Mà một khi động cơ cá nhân của một số không nhỏ các nhà hoạt động dân chủ, tự do có vấn đề thì đương nhiên là sẽ khó mà có một chiến lược mang tính toàn diện, khó để đi đến kết quả mỹ mãn. Đến đây, câu hỏi cần một chiến lược gì và thiếu một chiến lươc gì cần được giải quyết. Vấn đề chiến lược, hầu hết các nhà hoạt động tại Viêt Nam đều dựa vào hai thế mạnh cơ bản trong dân tộc, đó là: Tâm lý đám đông và; Nỗi bất trắc cá nhân.

Yếu tố tâm lý đám đông có thể chuyển biến một cuộc biểu tình nhỏ thành một cuộc cách mạng bùng phát bởi tính lây lan nhanh chóng của nó. Nhưng ngược lại, nó cũng nhanh chóng bị dập tắt một khi có bất trắc. Và nhìn lại những cuộc biểu tình ở các tỉnh Bắc miền Trung (riêng Sài Gòn và Hà Nội thì yếu tố tâm lý đám đông hầu như không có ở các cuộc biểu tình), sự bùng phát rất nhanh chóng các cuộc biểu tình và người biểu tình phát biểu hết sức mạnh mẽ khi chính quyền chưa tiến hành ruồng bố. Nhưng khi chính quyền dùng bạo lực ruồng bố, hầu như chẳng ai lên tiếng nữa và các cuộc biểu tình tự tắt. Bởi hầu hết những người tham gia biểu tình chỉ bức xúc vấn đề môi trường bị phá hoại nhưng họ không hề hiểu rằng cuộc biểu tình của họ đã bị “ai đó” bẻ lái sang hướng đấu tranh dẹp bỏ chế độ Cộng sản và các khẩu hiệu, cờ biểu tình lại mang màu sắc chính trị. Bởi có một thưc tế cần phải suy nghĩ là động cơ mạnh nhất của người dân tham gia biểu tình là bức xúc chứ chưa phải là sự thôi thúc về môt hệ thống chính trị tốt đẹp, có tự do, dân chủ.

Chính vì vậy, khi có sự đồng thuận của nhà cầm quyền về măt quyền lợi, một số cá nhân từng tuyên bố rất mạnh miệng trong biểu tình chuyển sang ôn hòa và im lặng để nhận phần đền bù. Và cái thiệt nhiều nhất sau mỗi cuộc biểu tình là các nhà tổ chức, nhà đấu tranh chưa đạt được mục đích, những gì họ chọn lựa và phác thảo ban đầu. Khuynh hướng bẻ lái từ bức xúc môi trường sang lời kêu gọi thay đổi chế độ chính trị là một khuynh hướng thiếu độ bền và có tính cập rập.

Bởi nhìn vào tất cả những gì xảy ra cho người biểu tình, người ta dễ dàng nhận ra là kế hoạch biểu tình quá sơ sài, chỉ có một bước duy nhất là thuyết phục bằng cách này hay cách khác cho người dân tham gia biểu tình kêu gọi bảo vệ môi trường và qua đó, bẻ lái sang chính trị, kiểu như hô vang ‘đả đảo cộng sản’ hoặc trưng cờ ba sọc… Trong khi đó, vấn đề cùng nhau chống lại ruồng bố của công an hầu như chuẩn bị quá sơ sài, đến khi công an tổ chức bắt cóc hoặc ruồng bố thì chỉ có một giải pháp duy nhất là kêu gọi cộng đồng hỗ trợ. Thử nghĩ, nếu cộng đồng đủ điều kiện từ vật chất đến tinh thần thì cộng đồng đã biểu tình từ lâu, cần gì phải ngồi nhìn và ngưỡng mộ những đoàn biểu tình? Và khi đoàn biểu tình, người biểu tình kêu gọi cộng đồng hỗ trợ thì hậu quả của viêc này là tạo thêm khoản cách sợ hãi trong cộng đồng bởi họ đã nhìn thấy ‘sự cố’ trước mắt.

Vì sao cho đến thời điểm hiện nay, vẫn chưa có một cuộc cách mạng nào làm thay đổi cục diện chính trị Việt Nam? Vì một thứ rất đơn giản, đó là chúng ta chưa bao giờ có đươc một liên minh tiến bộ theo đúng nghĩa của nó. Muốn có một liên minh như vậy, vấn đề đầu tiên không phải là câu hỏi “tiền đâu?” mà rất nhiều nhà dân chủ đang tự hỏi. Bởi hỏi như vậy cũng có nghĩa là chúng ta đang đối mặt với một thứ đòi hỏi có tính tư lợi khác, một loại lợi ích nhóm khác để chiến đấu với nhóm lợi ích Cộng sản xã hội chủ nghĩa. Mà một khi đụng đến lợi ích nhóm thì nhóm nào cũng có những nhu cầu về lợi ích riêng, kể cả các nhóm tôn giáo. Điều quan trọng nhất là thấy được mẫu số chung để đi đến liên minh tiến bộ, không để xảy ra sự cố va chạm lợi ích. Nhưng Việt Nam chưa có điều này. Điều này dẫn đến hệ quả là hầu hết những nhà hoạt động dân sự, các đảng phải đều có những cái bắt tay tạm thời với nhau và thiếu sự hỗ trợ nhau khi cần thiết.

Và một khi không có sự thống nhất, không có liên minh bền vững thì chắc chắn sẽ không bao giờ có được chiến lược lâu dài cho một cuộc cách mạng lớn. Người ta chỉ có thể tụ tập và tan rã nhưng không có sự bảo toàn lực lượng. Cách mạng Dù ở Hồng Kông dù sao vẫn có chiến lược lâu dài, khi xã hội đen tấn công người biểu tình thì tất cả các môn phái võ thuật của Hồng Kông lên tiếng, đứng ra bảo vệ người biểu tình. Không phải tự dưng mà có được như vậy. Mặc dù cuộc cách mạng này không đi đến thành tựu như dự tính nhưng chí ít nó cũng để lại một bức tường khá vững trước trận gió độc tài từ Trung Hoa Đại Lục. Nó ngược hẳn với Việt Nam, khi giới xã hội đen xuất hiện để trấn áp, hành hung người biểu tình, nhà đấu tranh thì dường như người bị tấn công rơi vào cô đơn, bị bỏ rơi.

Bao giờ chúng ta chạm đến dân chủ?

Câu trả lời cho câu hỏi này là cái nhìn về tương quan chính trị cũng như khuynh hướng phát triển khu vực và thế giới. Nếu không kịp nhận biết vấn đề để có cái nhìn thấu đáo, chúng ta dễ bị biến thành con tốt trong bàn cờ chính trị của nước lớn. Và đất nước Việt Nam từ thời còn mang những cái tên khác đã từng rơi vào tình thế này, cho đến bây giờ, Việt Nam vẫn chưa hề thoát khỏi bàn cờ chính trị của Hoa Kỳ và Trung Quốc.

Điều nghiệt ngã nhất là vị trí địa lý của Việt Nam giống như con dao hai lưỡi, nếu như với chiều dài 3234km bờ biển thuận lợi cho việc giao thương, khai thác và nuôi trồng thủy sản, mở rộng dịch vụ hàng hải bao nhiêu thì ngược lại, vị trí sát biển với hàng trăm mối nguy từ biển Đông, từ ông bạn hàng xóm xấu tính Trung Quốc cũng như vị trí chiến lược đóng vai trò “tiền trạm tiềm năng” cho các khối chính trị trên thế giới (mà chủ yếu là Cộng sản và Tư Bản) luôn vừa là cơ hội, vừa là mối nguy trong tầm ngắm, thậm chí tầm sát thương, xâu xé của họ.

Đến hiện tại, khi ván cờ chính trị khu vực đã bắt đầu lật ngửa, Trung Quốc đã chính thức lộ nguyên hình tham vọng bá chủ Biển Đông và khu vực, thậm chí bá chủ thế giới của họ, chính sách Đại Hán bành trướng đã áp dụng một cách cứng rắn trên mọi phương diện đối ngoại của họ. Điều này cho thấy mối nguy không dừng ở Việt Nam, mà mối nguy lớn lại rơi vào đảng Cộng sản Việt Nam. Nếu như trước đây, Trung Quốc chấp nhận rót tài chính, khí tài và nhân lực cho Cộng sản Bắc Việt đánh thẳng vào miền Nam, đánh sập chế độ Việt Nam Cộng Hòa để biến Việt Nam thành tiền trạm của họ, thì hiện tại, Cộng sản Việt Nam hầu như không còn giá trị lợi dụng đối với Cộng sản Trung Quốc. Những gì họ muốn thì họ đã có. Các trung tâm điệp báo trá hình với cái vỏ nhà đầu tư, khu luyện thép, khu khai thác quặng, nhà máy nhiệt điện, casino, cửa hàng… của Trung Quốc đã có mặt tại Việt Nam.

Vấn đề Trung Quốc cần nhất hiện nay là làm sao có thể quân sự hóa biển Đông và biến bán đảo Đông Dương thành sân nhà, tiền trạm của Trung Quốc. Trung Quốc có thể mua chuộc Lào, Campuchia và dùng chiến thuật quân sự để thâu tóm các nước này, thậm chí dùng vũ trang để xâm chiếm. Nhưng muốn vậy, họ phải thâu tóm Việt Nam trước, bởi chỉ cần thâu tóm được Việt Nam thì hai nước Lào, Campuchia có thể dễ dàng chấp nhận mọi yêu cầu của Trung Quốc. Thâu tóm Việt Nam là một chiến thuật chọc thủng mắt rồng để cả con rồng quằn quại và cuối cùng là tự đưa đầu vào tròng.

Chỉ có việc thu phục bán đảo Đông Dương thì mới thâu tóm được biển Đông, mà thâu tóm được biển Đông thì mới có thể quân sự hóa Biển Đông toàn triệt, mới hết sợ Hoa Kỳ. Khi mà Trung Quốc đã chính thức quân sự hóa biển Đông thì e rằng Hoa kỳ khó có cơ hội cho các chiến hạm đi ngang đi dọc thách thức quân sự Trung Quốc như hiện tại. Và lúc đó, Trung Quốc có thể đưa ra hàng loạt yêu cầu với Hoa Kỳ nếu Hoa Kỳ muốn thông thương hàng hải trên biển Đông. Và muốn có được điều này (thâu tóm Đông Dương và biển Đông), không còn cách lựa chọn nào khác là triệt tiêu Cộng sản Việt Nam, tạo ra sự lộn xộn, tao loạn trong quốc gia này, làm cho quân đội Việt Nam phải tê liệt trong lúc giao thời, thay đổi chế độ. Nhân lúc đó, Trung Cộng sẽ tấn công các đảo, thiết lập khu tự trị của người Trung Quốc trên đất liền, ngay những khu đất mà họ được thuê 50 năm, 70 năm.

Hiện tại, mặc dù trên danh nghĩa thì Cộng sản Việt Nam và Cộng sản Trung Quốc là anh em răng môi, hỗ trợ nhau để giữ độc tài. Nhưng trên thực tế, trong cả hai đảng này đều có phe nhóm riêng và giữa các nhóm lợi ích này cũng đấu đá, thanh trừng nhau gắt máu. Người Cộng sản chỉ có thể chơi thân với nhau khi họ đói, nhưng họ có thể quay mặt, làm kẻ thù của nhau khi chia chác quyền lợi. Đây là lực cản lớn nhất để Trung Quốc thực hiện mưu đồ bá chủ Đông Dương, làm chủ biển Đông. Bởi Cộng sản Việt Nam có thể dâng mọi thứ cho Trung Quốc, ngoại trừ quyền lực độc tài của họ trên lãnh thổ Việt Nam. Và đây là hòn đá lớn chắn bánh xe đang tiến về phương Nam của Trung Quốc Đại Hán. Tiêu diệt Cộng sản Việt Nam hoặc tạo ra một mối thâm thù giữa Cộng sản với giới hoạt động dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam bằng gián điệp, tình báo và các chiến lược kinh tế, phá hoại môi trường nhằm làm cho Việt Nam mất hẳn sức mạnh bởi nội loạn.

Đó là chiến lược lớn của Trung Quốc, và nếu được, họ sẽ tìm cách lật đổ Cộng sản Việt Nam để tạo kẽ hở chính trị mà tấn công. Một khi đã làm chủ biển Đông, làm chủ khu vực Đông Dương, quân sự hóa biển Đông xong xuôi, thì Trung Quốc có thể nghênh ngang mà bành trướng tiếp, mở rộng quyền lực trên thế giới.

Trong khi đó, Hoa Kỳ rất coi trọng quyền lợi của họ trên biển Đông. Và càng coi trọng quyền lợi, họ càng phải tạo ra những xung động chính trị để Cộng sản Việt Nam càng nhanh chuyển hóa dân chủ bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu. Cũng nên nhớ, bầu dân chủ của Việt Nam chỉ mạnh lên kể từ khi Hoa Kỳ bình thường hóa quan hệ với Việt Nam đến nay. Trước đó, Việt Nam khó có cơ hội để các nhà hoạt động đấu tranh dân chủ, nhân quyền bắt tay vào việc. Và rõ ràng, mọi động thái chính trị của Hoa Kỳ từ lúc bình thường hóa quan hệ với Việt Nam đến nay đều cho thấy họ không hề muốn đảng Cộng sản sụp đổ, bởi chạm vào điều này cũng chẳng khác nào đẩy Cộng sản Việt Nam xích lại gần Cộng sản Trung Quốc hơn!

Chiến lược nâng cao văn hóa, kinh tế và để các trào lưu dân chủ kéo theo như một qui luật tự nhiên thông qua các kênh thông tin thời điện toán mà Hoa Kỳ đã áp dụng tại Việt Nam cho đến thời điểm hiện nay có thể nói là thành công. Điều này tác động không nhỏ đến giới chính trị Cộng sản Việt Nam, họ nhận ra yêu cầu bắt buộc về một sự chuyển hóa để tồn tại nếu như không muốn bị Trung Quốc nuốt trộng như Tây Tạng hay Hồng Kông trong tương lai. Và lực đẩy, đồng thời cũng là đối lực và cơ hội gần Hoa Kỳ hơn của Cộng sản Việt Nam không ai khác ngoài giới hoạt động, đấu tranh dân chủ tại Việt Nam. Điều này thể hiện rất rõ là Cộng sản chưa bao giờ triệt tiêu (và muốn triệt tiêu cũng không được) giới hoạt động đấu tranh, dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam. Mà họ tìm cách ruồng bố ở mức độ có thể thương lượng đổi chác với Hoa Kỳ, thường thì trước mỗi chuyến đi của một lãnh đạo Cộng sản sang thăm Hoa Kỳ, có ít nhất từ hai đến ba nhà hoạt động dân chủ, nhân quyền bị bắt.

Điều này gợi ra viễn cảnh những cái bắt tay giữa các nguyên thủ của hai quốc gia này nhuốm màu tương lượng, đổi chác mà trong đó, kẻ giàu ban cho kẻ nghèo tiền bạc, khí tài và bù lại, kẻ nghèo phải biết tự sám hối bằng cách trả dân chủ, trả tự do về đúng vị trí của nó. Trò này diễn ra khá dai dẳng, lộ liễu, không hẳn Hoa Kỳ không nhìn thấy mà có vẻ như mọi sự cũng nằm trong dự tính và nằm trong ván cờ của Hoa Kỳ. Không những vậy, Hoa Kỳ còn tạo ra những kẽ hở thương lượng để Cộng sản Việt Nam đủ mạnh trong vấn đề quốc phòng vừa phải tự chuyển hóa để tồn tại. Bởi điều này có lợi cho Hoa Kỳ và có lợi cho cả vấn đề hòa bình, ổn định trên bán đảo Đông Dương, sâu xa hơn là đảm bảo cho quyền lợi của Hoa Kỳ trên biển Đông.

Advertisements

Leave a comment

Filed under Uncategorized

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s