21/7/1954: Hội nghị Genève bế mạc

Phan Ba 20/07/2019 — “Ván bài được kết thúc dứt khoát, vào phiên họp cuối cùng, ngày 20 tháng 7. Người ta phải vặn lại đồng hồ vào nửa đêm của phòng hội nghị, để không quá thời hạn của ông Mendès France đã ấn định. Ông này như vậy là đã thắng cuộc.

Thể thức đình chiến đã được ký kết bởi đại diện của hai viên Tổng tư lệnh. Ngày 21, hội nghị bế mạc bằng một Thông Cáo Chung, chỉ do hai viên Tổng thư ký của hội nghị ký.”
[i]


Hội nghị Genève

Hiệp định Genève bao gồm hai phần. Văn kiện thứ nhất quy định chi tiết về việc ngưng bắn và tập kết cho quân đội Pháp và Việt Minh. Đây là văn kiện duy nhất được ký kết tại hội nghị, và chỉ do các viên chỉ huy quân đội Pháp và Việt Minh ký. Tướng Henri Delteil ký thay cho Tướng Paul Ély, Tạ Quang Bửu ký thay cho tướng Võ Nguyên Giáp.

Thỏa thuận ngưng bắn lấy vĩ tuyến 17 làm giới tuyến chia nước Việt Nam ra làm hai miền để quân đội hai bên tập kết về vùng của mình. Thời hạn tập kết cho quân đội hai bên là 300 ngày, và trong thời gian này người dân Việt Nam được tự do di chuyển từ khu vực kiểm soát của bên này sang vùng kiểm soát của phía bên kia. Hạn chót là ngày 18 tháng 5 năm 1955.

Văn kiện thứ hai là Tuyên Bố Cuối của hội nghị. Văn kiện này không có chữ ký của các bên. Về cơ bản, Tuyên Bố Cuối bao gồm các nhượng bộ mà phía Việt Minh xem như là tiền đề để chấp thuận ngưng bắn. Các điều quan trọng nhất là “giới tuyến quân sự này không nên được hiểu theo bất kỳ cách nào như là sự cấu thành một ranh giới chính trị hoặc lãnh thổ”. Thời hạn quy định tổ chức tổng tuyển cử (tháng 7 năm 1956) là một điều đáng ngạc nhiên. Phe Việt Minh lúc đầu đã yêu cầu tổ chức cuộc bầu cử này chỉ vài tháng sau khi ngưng chiến. Thế nhưng Ngoại trưởng Liên Xô Molotov lại đề nghị chờ hai năm khiến cho người Pháp phải ngạc nhiên.[ii]

Ông Trần Văn Đỗ, Ngoại trưởng Quốc gia Việt Nam lên tiếng phản đối hiệp định:

“Chính phủ Việt Nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận một cách chính thức rằng Việt Nam long trọng phản đối cách ký kết Hiệp Định cũng như những điều khoản không tôn trọng nguyện vọng sâu xa của dân Việt. Chính phủ Việt nam yêu cầu Hội nghị ghi nhận rằng chính phủ tự dành cho mình quyền tự do hành động để bào vệ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt Nam trong công cuộc thực hiện thống nhất, độc lập và tự do xứ sở.”
[iii]

Ông Đỗ đã gọi hiệp định đó là “một thảm họa và phi đạo đức” và yêu cầu ghi lời phản đối của chính phủ Quốc gia Việt Nam vào trong Tuyên Bố Cuối của Hiệp định. Lời yêu cầu này đã bị Mendès-France và Eden từ chối. [iv]

“Diệm đọc ở Sài Gòn, có treo cờ rũ, một bài diễn văn, trong đó ông lên tiếng chống lại sự bất công, đã giao cho Cộng sản tất cả miền Bắc đất nước, thêm bốn tỉnh ở miền Trung… Ông nhắc lại, ‘chúng tôi không thể đặt vào vòng nô lệ hàng triệu đồng bào, trung thành với chủ nghĩa Quốc gia…’”.[v]

Tổng thống Dwight D. Eisenhower tuyên bố Hoa Kỳ không bị ràng buộc bởi những quyết định của Hội nghị.[vi],[vii].

Claude Cheysson, cố vấn cho thủ tướng Pháp Pierre Mendès-France, cùng chuẩn bị Hội nghị Đông Dương ở Genève và tham dự hội nghị, sau này đã nhận định rằng:

“Thế nhưng vào cuối hội nghị thì không có hiệp định nào được ký kết giữa người Bắc Việt và chúng tôi cả, mà chỉ là những thỏa thuận quân sự song phương. Nhưng điều quan trọng đối với tôi là muốn nhận xét ở đây, rằng thái độ của Hoa Kỳ ở Genève đã thể hiện rằng cuộc xung đột ở Đông Dương ngay từ 1954 đã phát triển trở thành một cuộc chiến đấu chống cộng sản của người Mỹ ra sao.


Kết quả của Hội nghị Genève đối với chúng tôi là một sự nhẹ nhỏm lớn. Người dân chúng tôi không còn muốn biết gì về cuộc chiến này và về Đông Dương nữa. ‘Ra khỏi đó càng nhanh càng tốt!’, tinh thần là như vậy.” [viii]

Phái đoàn Việt Minh trở về quê hương, tin chắc rằng mình đã bị Chu Ân Lai lừa gạt, vì phải chấp nhận hoãn lại việc thống trị toàn bộ nước Việt Nam.[ix],[x] Hội nghị Genève cũng là một bài học cho những người Cộng sản Việt Nam về bản chất và những giới hạn của Chủ nghĩa Cộng sản Quốc tế.[xi]

Sau Hội nghị Genève, phái đoàn Việt Minh cử một người có tên là Văn Chí đến gặp Bảo Đại để nói với ông rằng họ “sẵn sàng quên hiệp ước Genève và các cuộc bầu cử” để cùng với Bảo Đại “bắt tay đi đến thống nhứt đất nước” bằng cách là “Xin Hoàng thượng trở lại Sài Gòn, và gọi đến chúng tôi. Chúng tôi sẵn sàng làm việc với Ngài, theo lệnh của Ngài”. Tức là phía Việt Minh muốn nhờ Bảo Đại đưa chế độ Cộng sản vào Sài Gòn. Quốc trưởng Bảo Đại từ chối và viết trong hồi ký của ông rằng sau cuộc gặp gỡ đó ông đã trao toàn quyền cho Ngô Đình Diệm.[xii]

Tuy Hiệp định đã quy định người dân được đi chuyển tự do giữa các vùng và tất cả tù binh chiến tranh cũng như tù nhân dân sự phải được phóng thích trong vòng ba mươi ngày sau khi lệnh đình chiến có hiệu lực ở khắc nơi nhưng phía Việt Minh đã không tuân thủ đúng theo những điểm này. Phía Việt Minh đã dùng nhiều biện pháp để ngăn cản không cho người dân di cư vào Nam như ép buộc người sống vùng duyên hải phải dời sâu vào trong nội địa, dùng vũ lực bắt giữ, thậm chí đã xả súng vào gần 20.000 thường dân ở Ba Làng (Thanh Hóa) ngày 8 tháng 1 năm 1955.[xiii]


Tù binh Pháp bị Việt Minh bắt tại Điện Biên Phủ
lúc được trao trả vào cuối năm 1954.

Tù binh chiến tranh cũng không được trao trả đầy đủ. Một người bạn thân của ông Nguyễn Công Luận, một trung úy của quân đội Quốc Gia đã bị Việt Minh bắt sau một cuộc phục kích đánh bại Tiểu đoàn 6 ở Ninh Bình trong tháng 3 năm 1954, đã không được trao trả trong lần trao đổi tù binh như đã được quy định trong hiệp định. “Anh ấy tình cờ gặp một người họ hàng đang trên đường chạy trốn khỏi Bắc Việt Nam khi đang làm việc trong một khu rừng gần trại tù nơi anh đang bị giam giữ trong tỉnh Quảng Bình, gần vĩ tuyến 17. Anh ấy đã gửi một bức thư ngắn ghi lại tên trại giam, địa điểm và số tù nhân của mình. Gia đình anh khiếu nại với ICCS. Đầu năm 1955, Ủy ban đã cử một toán đến trại để điều tra, nhưng chính quyền cộng sản đã bác bỏ cáo buộc của gia đình anh và không cho phép những người này truy cập vào hồ sơ của trại.” [xiv]

Trong số chừng 10.000 tù binh thuộc đủ các quốc tịch bị Việt Minh bắt giữ ở Điện Biên Phủ, chỉ có khoảng 3900 người được trao trả về cho phía Pháp. Số còn lại đã chết vì kiệt sức, đói ăn và bệnh tật trong lúc phải đi bộ về đến các trại giam hay trong thời gian bị giam giữ. Nếu như chuyến đi bộ về đến các trại giam ở Thanh Hóa (cách chừng 500 km) hay ở Bắc Kạn (cách đó 700 km) đã là một chuyến đi tử thần cho những con người đã kiệt sức và thiếu ăn đó thì điều kiện trong các trại giam cũng không khá hơn. Sốt rét và các loại bệnh nhiễm qua đường nước tăng vọt tăng vọt do họ phải uống nước không được đun sôi – chỉ những trại tù sĩ quan mới có nồi nấu nước uống.[xv]

Người lính lê dương gốc Đức Arthur Engel nhớ lại:

“Nhiều tù nhân bị bệnh kiết lỵ, số vàng da, bị nhiễm trùng và lảo đảo đi lại vì kiệt sức. Họ dùng ống tre dài uống thứ nước đầy vi khuẩn và vi rút đọng lại ở cái ao gần đó. Họ đổ càng nhiều nước vào thân thể đang bị những cơn sốt hành hạ của họ thì họ lại càng đau bệnh và ốm yếu nhiều hơn. Những người lính lê dương, giống như những xác chết bụng ỏng còn sống, đi trở về chỗ nằm của họ để chờ chết.”[xvi]

Chỉ có 44 người trong số 90 người của trại tù nơi Arthur Engel bị giam giữ là còn sống.[xvii]

Ở một trại khác, trại tù 70, chỉ 50 trong số 120 tù binh sống sót đến lúc được trao trả. [xviii]


[i] Bảo Đại. Con rồng Việt Nam. Xuân Thu Publishing, CA, 1990, trang 519.

[ii] Joseph Buttinger. Der kampfbereite Drache – Vietnam nach Dien Bien Phu. Europa Verlag Wien, 1968, trang 74-76.

[iii] Nguyễn Tiến Hưng. Khi Đồng Minh nhảy vào, trang 179.

[iv] Joseph Buttinger, trang 74.

[v] Bảo Đại, trang 521.

[vi] Bảo Đại, trang 524.

[vii] http://news.bbc.co.uk/onthisday/hi/dates/stories/july/21/newsid_3894000/3894175.stm

[viii] Schneider, Wolfgang. Apokalyse Vietnam. Rowohlt-Berlin Verlag GmbH, Berlin, 2000, trang 87-88. Bản dịch tiếng Việt trên Blog Phan Ba: https://phanba.wordpress.com/chien-tranh-dong-duong/

[ix] Max Hasting. Vietnam – An Epic Tragedy, 1945-1975. HarperCollins Publishers, New York, 2018, trang 91.

>[x] James H. Willbanks. Vietnam War Almanac. Facts On Files, New York, 2009, trang 18.

>[xi] Quang Zhai. China and the Vietnam Wars, 1950-1975. University of North Carolina Press, 2000, trang 63.

[xii] Bảo Đại, trang 522-523.

[xiii] Lê Xuân Khoa, Việt Nam 1945-1995, chương 6, NXB Tiên Rồng, 2004.

[xiv] Nguyễn Công Luận. Nationalist in the Viet Nam Wars. Indiana University Press, 2012, trang 146.

[xv] Logevall, Fredrik. Embers of War – The Fall of an Empire and the Making of America’s Vietnam. New York, 2012.

[xvi] Terry Kajuro. Dien Bien Phu – Die Fallschirmjäger der Fremdenlegion in Indochina. Epee Edition, 2014, trang 423.

[xvii] Terry Kajuro, trang 426.

[xviii] Fredrik Logevall, . Embers of War – The Fall of an Empire and the Making of America’s Vietnam. New York, 2012.

Leave a comment

Filed under Uncategorized

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s